Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỷ XX

Tác giả: Hồ Khánh Vân

1.      Sự manh nha ra đời của phê bình văn học nữ quyền: từ Phan Khôi đến Manh Manh nữ sĩ

Đầu thế kỷ XX là một giai đoạn sôi nổi của tư tưởng nữ quyền Việt Nam trong đó, Phan Khôi là nhà lý luận phê bình đã có công khai phá. Khác với Nguyễn Thị Kiêm, Phan Thị Bạch Vân nặng tính chất phong trào, Phan Khôi đã tiến đến bước tiếp nhận văn học từ ánh sáng tư tưởng nữ quyền, nghĩa là ông đi vào những vấn đề thuần văn học, thuộc về văn học. Những khai mở của Phan Khôi có giá trị rất lớn đối với nền phê bình, nghiên cứu theo khuynh hướng này.
Ngay từ số báo đầu tiên, Phan Khôi đã khẳng định ý nghĩa, vai trò và tiềm năng của nền văn học nữ lưu. Phan Khôi cho rằng nguyên nhân gây nên tình trạng rỗng và lép của văn học nữ trong lịch sử văn chương Việt Nam quá khứ là vì họ không đuợc hưởng một nền học vấn như nam giới:
 “Bởi phụ nữ nước ta xưa nay đã chịu dốt nát từ đời nọ đời kia như vậy, cho nên trong đám chị em mình mà được một vài tay biết chữ, biết làm câu thơ, câu văn, thì đời đã cho là một sự lạ lùng hiếm có. Những người biết chữ ấy, hãy còn để tiếng đến bây giờ, làm của báu cho những nhà cầm viết khi nào muốn khoe khoang cho nữ giới thì lại đem ra”.
(Về văn học của phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 1, 2/5/1929).
Ông cho rằng đây là thiệt thòi lớn lao nhất. Thảng đôi lúc cũng có những bậc nữ lưu cải biến hình dạng thành nam nhi để được thụ hưởng nền giáo dục hoặc những kỳ nữ có tài thi ca thiên phú để lại những đứa con tinh thần cho di sản văn học nghệ thuật của dân tộc. Thế nhưng, họ chỉ xuất hiện rải rác, lúc đậm lúc nhạt và tạo nên một dòng chảy văn chương mỏng manh, sơ sài, đứt đoạn mà theo đánh giá của Phan Khôi thì đấy chưa phải là văn học, là một nền văn học “chưa đủ”: “Nếu vậy thì chị em ta phải thú thiệt rằng nền văn học của nữ giới ta, từ xưa tới nay, chưa hề có bao giờ” (Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 1 (2.5.1929). Sau khi điểm qua những gương mặt văn chương nữ Việt Nam, chỉ rõ nguyên nhân và tình trạng của nền văn học nữ lưu, Phan Khôi đã cổ xúy mạnh mẽ việc đào tạo học vấn cho người phụ nữ để họ thoát khỏi sự đói nghèo thi ca và tri thức, nghĩa là giải quyết đến triệt để cội rễ sinh ra sự bất bình đẳng của phụ nữ trong đời sống nói chung và trong lĩnh vực văn hoá nói riêng. Tuy nhiên, đóng góp lớn lao, táo bạo, tinh tế và sâu sắc nhất trong tư tưởng của Phan Khôi đối với văn học nữ lưu là ông bênh vực mạnh mẽ quyền của phụ nữ, lên án những tội ác của lễ giáo phong kiến. Đi xa hơn, trên một tư duy mang tính lý luận, Phan Khôi đã tạo tiền đề cho lý thuyết nữ quyền trong văn học Việt Nam, dẫu chỉ mới là những phác họa sơ lược. Loạt bài Về văn học của phụ nữ Việt Nam (Phụ nữ tân văn, số 1, 2/5/1929), Văn học với nữ tánh (Phụ nữ tân văn, số 2, 9/5/1929), Văn học của phụ nữ nước Tàu về thời kỳ toàn thạnh(Phụ nữ tân văn, số 3, 16/5/1929), Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta (Phụ nữ tân văn, từ số 5 đến số 18, năm 1929)… đã thể hiện tầm nhìn và tấm lòng của một bậc thức giả thông tuệ.
Trước hết, Phan Khôi luận giải về mối quan hệ giữa người phụ nữ và văn học. Yếu tố thứ nhất khiến văn học gắn liền với phụ nữ vì người phụ nữ là biểu tượng cho cái đẹp mà văn học cũng như các loại hình nghệ thuật nói chung luôn có thiên hướng mỹ cảm, thiên hướng lấy cái đẹp vừa làm đối tượng vừa làm ngọn nguồn của cảm xúc, cảm hứng sáng tác. Yếu tố thứ hai thuộc về thiên tính đặc trưng của nữ giới. Ông cho rằng phụ nữ mang trong mình bản chất của sự yếu mềm, nhạy cảm, nghiêng về bộc lộ đời sống tình cảm bên trong mà đây cũng là thuộc tính và khuynh hướng của văn học nên người phụ nữ sẽ gần gũi và dễ dàng chiếm lĩnh thế giới văn chương hơn khi họ cầm bút sáng tác:
“Chúng ta có những cái tánh trầm tĩnh, nhẫn nại, dùng những cái tánh ấy mà nghiên cứu văn học, thì không có gì hạp cho bằng, có lẽ chúng ta theo nghề văn học còn dễ dàng hơn đờn ông nữa. Còn có một điều thích hiệp nữa, là văn học chuyên trọng về đường tình cảm, mà chúng ta là giống có tình cảm nhiều hơn đờn ông, thì thật là tiện lợi cho chúng ta biết mấy”
(Văn học và nữ tánh, Phụ nữ tân văn, số 2, 9/5/1929). 
Như vậy, ở đây, bằng những suy luận dựa trên sự tương đồng giữa đặc trưng trọng yếu của sáng tác văn chương và thiên tính bản chất của người phụ nữ, Phan Khôi khẳng định rằng phụ nữ là đối tượng trung tâm mà văn học hướng đến, đồng thời cũng là chủ thể có nhiều ưu thế trong sáng tác văn học.
Để chứng minh cho luận điểm của mình, Phan Khôi đưa ra những tác phẩm văn học có giá trị lớn trong nền văn học cổ điển nhằm làm điểm tựa để tính tỉ trọng nữ tính của văn học, tính tần suất hiện diện của yếu tố nữ giữa đời sống văn chương. Viện dẫn từ Kinh thi vốn được xem như một “sách Quốc phong đầu” của Trung Quốc, Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo với quyển “Nhã ca của Salomon” đến Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, những kiệt tác văn chương của Việt Nam,Sở từ của Khuất Nguyên, những sáng tác nổi tiếng và trở thành kinh điển của các nhà thơ bậc nhất trong nền đại Đường thi: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…, ông chỉ ra rằng tất cả những tuyệt phẩm thi ca này đều hướng đến người phụ nữ, lấy câu chuyện của người phụ nữ làm trung tâm, miêu tả cuộc đời, số phận, đời sống nội tâm của họ. Nền văn học thuộc về chủ thể nam với các hoạt động sáng tác như là một đặc quyền của nam giới trong xã hội lại tập trung vào đối tượng là người phụ nữ.
“Tôi rất lấy làm lạ rằng xưa nay bất kỳ nước nào cũng vậy, văn học là phần đàn ông, đàn ông đứng vào trung tâm của văn học, thì làm sao trong văn học, lại cứ hay nói đến chuyện đàn bà. Càng làm những áng văn chương hay chừng nào thì lại càng nói tinh về chuyện đàn bà chừng nấy”.
(Phụ nữ tân văn, số 2, 9/5/1929).
Vì văn học thiên về bộc lộ, giãi bày nên ngòi bút của người sáng tác đã chọn người phụ nữ đưa vào lăng kính của mình, vừa như là đối tượng, vừa là phương thức để thể hiện nội dung và mục đích sáng tác. Hơn nữa, các bậc nam tử thời bấy giờ thường mượn nỗi lòng của người phụ nữ để bộc bạch tâm trạng, hoài bão, nỗi u hoài thời thế và niềm trắc ẩn tự thân của mình. Đồng thời, Phan Khôi cũng nhấn mạnh rằng không phải bất cứ áng văn chương nào cũng ngụ ẩn sự ký thác ấy. Thế nhưng, trên tổng thể, văn chương và nữ tính có mối quan hệ thiết thân ruột rà với nhau, có những điểm tương đồng về mặt bản chất. Dựa trên những suy luận này, tác giả nhấn mạnh vai trò người phụ nữ trong văn học, khẳng định vị thế của họ trong sáng tác văn chương và dự cảm bằng trực giác rằng văn học nữ sẽ tạo dựng nên một thời đại riêng cho mình, trở thành chủ thể trung tâm chứ không chỉ là đối tượng trung tâm của sáng tác văn học: “Nếu vậy thì nữ tánh trở thành ra trung tâm của văn học hay sao? Nữ lưu sau nầy sẽ trở nên người chủ trương nền văn học hay sao? Biết đâu!” (Phụ nữ tân văn, số 2, 9/5/1929). Những phán đoán cũng như những biện giải ấy, mặc dù, tác giả đã thận trọng chỉ khuôn vào tinh thần “vị quyết”, phỏng định và ước chừng nhưng lại mang nhiều giá trị đối với phê bình nữ quyền, xác lập một nền tảng căn bản cho khuynh hướng phê bình này trong đời sống văn học và có những suy nghĩ, những dự cảm xác đáng đã được lịch sử văn học minh chứng, đặc biệt là giai đoạn văn học hiện đại.
Những quan điểm của Phan Khôi về văn học nữ đã tạo nên cuộc tranh luận với Thế Phụng, một ngòi bút của báoCông Luận và tạo nên không khí học thuật sôi nổi thời bấy giờ về vấn đề này. Qua những trao đổi giữa hai tác giả, có thể thấy rằng mặc dù đã chủ trương đổi mới cái nhìn về người phụ nữ và cổ động sự phát triển bộ phận văn học nữ, quan niệm của Thế Phụng vẫn chưa thực sự triệt để và còn bó hẹp trong con mắt đầy phân biệt và có phần hạ thấp người phụ nữ của những định kiến xã hội.
Phan Khôi khẳng định phụ nữ nên tham gia vào sáng tác văn học và có thể tạo nên một nền văn học vững chãi, dày dặn, có giá trị cho giới của mình. Từ sự tương đồng giữa phụ nữ và tính chất mỹ cảm của văn chương, ông cho rằng phụ nữ thích hợp với văn chương hơn so với nam giới khi dùng ngòi bút bộc lộ đời sống tình cảm bên trong con người, đặc biệt là khi hướng đến đối tượng là chính bản thân họ. Phan Khôi nhận ra sự khác biệt giữa tính chủ thể và tính khách thể trong sáng tác văn chương, sự khác biệt giữa cách thức biểu hiện của tác giả nam khi nhận diện người phụ nữ như một đối tượng sáng tác và tác giả nữ viết về chính mình trong vai trò chủ thể.
Không chỉ dừng lại về phương diện lý luận, Phan Khôi đi sâu hơn vào việc thực hành lý thuyết nữ quyền. Đóng góp có giá trị nhất của vị học giả này thuộc về bài viết “Theo tục ngữ phong dao, xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta” (gồm 87 trang, đăng trên 11 số báo, từ số 5, 30/5/1929 đến số 18, 29/8/1929). Tinh tường, nhạy bén, Phan Khôi đã sục mình vào kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, rà soát kỹ lưỡng để tìm kiếm từng dấu vết biểu hiện đời sống của người phụ nữ trong tục ngữ, ca dao, dân ca… Mặc dù thời bấy giờ lý thuyết phê bình nữ quyền chưa hoàn chỉnh, nhưng bằng trực giác và kiến văn sâu rộng của một kẻ trí giả, ông đã làm được một cuộc trưng tập khá đầy đủ về lề thói sinh hoạt, phong tục tập quán, vị trí, thân phận… của người phụ nữ qua  tác phẩm văn học truyền miệng.
Bên cạnh Phan Khôi, còn có nhiều cây bút nữ: Manh Manh nữ sĩ, Vân Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương nữ sĩ, Phan Thị Bạch Vân, Phan Văn Gia, Bùi Thị Út… và các gương mặt nam giới đã khá quen thuộc: Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Nguyễn Phan Long, Cao Văn Chánh, Diệp Văn Kỳ... Tất cả đều bộc lộ quan điểm và tìm tòi về các vấn đề nữ quyền, nhằm trao đổi, tranh luận với nhau. Thế nhưng, phải thấy rằng, tư tưởng nữ quyền đầu thế kỷ XX tập trung vào phương diện xã hội nhiều hơn. Trong lĩnh vực phê bình và nghiên cứu văn học, các bài viết này chỉ dừng lại ở việc khảo sát một số tác phẩm để tìm ra tư tưởng nữ quyền. Vì vậy, về mặt lý luận, phê bình nữ quyền Việt Nam thời kỳ còn ở dạng sơ khai, phác thảo và có tính xã hội nhiều hơn.
Nguyễn Thị Kiêm cũng là một nhà báo sắc sảo trên văn đàn đương thời. Trong bài diễn thuyết nhằm khẳng định vai trò của người phụ nữ đối với văn chương và tri thức của nhân loại, nữ sĩ đưa ra những dẫn chứng khẳng định vai trò “nội tướng” của nữ giới trong sự nghiệp văn học của nam giới các nước, phong trào học thuật của phụ nữ ở các quốc gia tiên tiến:
“(…) cái địa vị của đàn bà ở trong văn học cũng không phải là thấp thỏi gì, theo như nhiều người đã tưởng. Và cái ảnh hưởng của đàn bà đối với những bậc văn nhân tao sĩ cũng rất là nặng nề thâm thiết, nhờ đó mà văn học phát đạt vô cùng”.
(Nữ lưu và văn học, Nguyễn Thị Manh Manh, 
Phụ nữ tân văn, số 131, ngày 26/5/1932).
Cũng như Phan Khôi, tác giả chỉ ra rằng yếu tố cốt lõi tạo dựng nên năng lực sáng tác của nữ giới chính là đời sống nội tâm phong phú và nhạy cảm, cái mà bà gọi là “kho tàng” của thế giới cảm xúc chủ quan:
“Những của cải tích trữ ở trong cái kho tàng đó, nếu có thể phân phát ra bằng ngọn bút đường văn, thì cái văn ấy là cái hình ảnh của nỗi lòng, khi thường, khi biến, lúc an, lúc nguy, tùy theo với sự kích thích của ngoại cảnh mà thăng trầm, mà theo với cái ca điệu của thiên nhiên mà họa vận”.
(Nữ lưu và văn học, Nguyễn Thị Manh Manh, Phụ nữ tân văn, số 131, ngày 26/5/1932).
Điểm đáng chú ý nhất trong bài viết này là Nguyễn Thị Kiêm vạch ra những ranh giới tạo nên sự khác biệt về giới trong hành trình sáng tác văn học với các cặp đôi khái niệm: khách quan – chủ quan, nam hóa - nữ hóa và luận giải rằng phụ nữ muốn thay đổi địa vị của mình trong các thang bậc của đời sống thi ca thì phải vượt qua ranh giới của sự khác biệt ấy, nhưng đồng thời vẫn giữ bản sắc giới tính của mình.
“Bởi vậy mà mới đây có sự cách mạng rất đáng chú ý ở làng văn nữ giới là sự nam hóa (masculinisation ) nghĩa là sự đàn bà muốn hóa theo đàn ông. Sự nam hóa nầy là kết quả dĩ nhiên của cái phong trào nữ quyền ở thế giới.
Quyền lợi trong xã hội đã muốn hưởng ngang nhau thì địa vị trong văn học cũng không được cách vị. Đàn ông chê đàn bà không sở trường về lối khách quan nghị luận, đàn bà phải tỏ ra là có.
Mà đã muốn tỏ ra có tư cách khoa học, có tư tưởng triết học, biết nghị luận khách quan thì cái bổn ngã khác thế nào”.
(Nữ lưu và văn học, Nguyễn Thị Manh Manh, Phụ nữ tân văn, số 131, ngày 26/5/1932).
Những khái niệm mà Nguyễn Thị Kiêm đưa ra trên đây không đơn thuần là sự lập luận của cảm tính mà có những cơ sở của nó, dựa trên nguyên lý bản chất về giới. Trong Giới nữ, Simone de Beauvoir trong khi phân tích bản thể nữ, cũng đã chỉ ra sự khác biệt này. Về bản chất tự nhiên, nam giới thiên về hướng ngoại, phóng chiếu cái nhìn của mình ra thế giới khách quan và tìm kiếm cái khác để soi chiếu và tìm hiểu chính mình. Cái khác đó đi ra từ thuật ngữ “other” và đó là đối tượng thường hằng của nam giới trên hành trình khám phá, chinh phục thế giới bên ngoài, từ đó, khám phá chính bản thể của mình. Ngược lại, nữ giới mang cái nhìn hướng nội, xoay chuyển vào thế giới bên trong bằng hành trình tự khám phá và nhận thức chính mình bằng cảm nhận nội giác. Vì vậy, họ thiên về khuynh hướng chủ quan.
“Theo lẽ sinh lý, thì đàn bà thường nặng về phần hồn và nhẹ về phần trí, cảm tình thì sâu mà tư tưởng thì hẹp nên trong văn học thường sở trường về lối tả cảnh, đạo tình mà ít hay về lối khách quan triết lý”.
(Nữ lưu và văn học, Nguyễn Thị Manh Manh, Phụ nữ tân văn, số 131, ngày 26/5/1932).
Trên cơ sở phân chia thành hai thể loại văn học chính: văn học khách quan và văn học chủ quan, Nguyễn Thị Kiêm chỉ ra rằng người phụ nữ bị đánh giá thấp và bị loại trừ ra khỏi đời sống văn chương là vì họ không có năng lực của sự khách quan ấy. Do đó, phụ nữ cần phải nam hóa, nghĩa là cải biến mình để giống người nam, mang những đặc tính nam. Khuynh hướng này có phần cực đoan và khiên cưỡng, xóa bỏ sự khác biệt tự nhiên về giới, nhưng trong lịch sử, hành trình này thực sự đã hiện hữu như một quy luật trên mọi lĩnh vực. Nam hóa là một giai đoạn luôn có mặt trong hành trình đấu tranh của người phụ nữ để đòi lại sự bình đẳng và công bằng cho mình. Vấn đề này chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở phần sau, khi phân tích về tính chất của dòng văn học nữ thời kì hiện đại.
Nguyễn Thị Kiêm đã thể hiện cái nhìn sắc sảo, tinh tế và đầy tính biện chứng. Thứ nhất, nữ sĩ khẳng định người phụ nữ khi tham gia vào văn nghiệp phải nâng cái nhìn của mình lên cùng tầm với người nam, tri giác thế giới khách quan, nhưng vẫn giữ cái bản sắc chủ quan, vốn gần gũi với thi ca; nghĩa là phụ nữ có nam hóa nhưng không nam hoá tuyệt đối. Thứ hai trong suốt lịch sử văn học, bản thân nam giới cũng đã bộc lộ sự “nữ hóa” của mình, khi tái hiện đời sống chủ quan bên trong, với thế giới nội tâm đầy phức tạp và bằng giọng điệu của xúc cảm, của cảm giác.
“Vả, bây giờ ta mới thấy ở văn học nữ lưu có phong trào nam hóa, mà từ trước đến nay, ở bên nam giới đã có bao nhiêu sự nữ hóa về văn chương ?
(…)
Nay có cái phong trào nam hóa, không biết sự nữ hóa còn được ở trong văn học không. Hai việc đó xét ra không có gì là mâu thuẫn cả.
Đàn bà muốn học cái cứng cỏi của đàn ông cũng chưa bớt cái uyển chuyển của đàn bà. Đàn bà muốn có cái khách quan của đàn ông, thì đàn ông cũng vẫn mượn được cái chủ quan của đàn bà chớ sao?”
(Nữ lưu và văn học, Nguyễn Thị Manh Manh, Phụ nữ tân văn, số 131, ngày 26/5/1932).
Như vậy, không đơn thuần chỉ ra sự khác biệt, Manh Manh nữ sĩ còn luận ra sự giao thoa trong bản chất giới của người nam và người nữ khi tham gia vào đời sống sáng tác. Từ đấy rút ra một hệ luận rằng, văn học là lĩnh vực dung chứa sự giao thoa của giới, đưa con người đến những giao điểm thuộc về bản chất chung của nhân loại. Đấy chính là điểm tựa lý luận để Manh Manh nữ sĩ đặt lực đẩy đòn bẩy của mình nhằm khẳng định sự tồn tại và sức bật của nền văn học nữ lưu.
2.      Diện mạo văn học nữ Nam bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX
Những năm ba mươi của thế kỷ XX,  phong trào nữ quyền Việt Nam đã thực sự trỗi dậy chứ không chỉ nằm im lìm dưới dạng tư tưởng, đã mang ý thức tự giác chứ không còn đơn thuần là sự tự phát. Các cây bút nữ xuất hiện với nhiều dáng vẻ, nhiều giọng điệu. Họ góp gương mặt mình trong cả lĩnh vực sáng tác thơ ca lẫn tiểu thuyết, nắm bắt nhịp phát triển mới mẻ, sôi nổi và tràn đầy sức sống của thời đại. Người phụ nữ biết chữ và người phụ nữ viết văn, điều lạ lẫm đến ghê gớm trong thời kỳ trung đại, đã trở nên quen thuộc và để lại dấu ấn trong đời sống văn hoá, văn nghệ đương thời. Về lượng, theo thống kê của nhà nghiên cứu Bằng Giang, “tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác phẩm in thành sách”. Con số 20 ấy chỉ mới tính trên chu vi miền Nam, nhưng đã cho thấy những bằng chứng khả quan về sự xuất hiện sôi nổi của văn chương nữ, nếu so sánh với con đường dài quá khứ của gần 10 thế kỷ trước, khi người ta chỉ bấm được trên đầu ngón tay để đếm những cột cây số của sáng tạo thơ ca nữ như: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân công chúa… Văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX, với những cây bút có công mở đầu nền tiểu thuyết hiện đại của Việt Nam như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Bửu Đình, Phú Đức, Nguyễn Bửu Mọc, Lê Hoằng Mưu… cũng phải ghi nhận sự góp mặt của các cây bút nữ xông xáo tham gia vào buổi đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc như: Phan Thị Bạch Vân,  Huỳnh Thị Bảo Hòa, Trần Thị Như Mân, Huỳnh Anh Thị, Ái Lan… Bên cạnh đó, cánh cửa thi ca đầu thế kỷ XX cũng xôn xao những gương mặt: Nguyễn Thị Manh Manh, Đạm Phương Mộng Tuyết, Trần Kim Phụng (Đinh Hương Đặng Thị Hồi), Trần Ngọc Lầu, Anh Thơ, Ngân Giang, Vân Đài, Hằng Phương … Họ đã đứng cạnh những cây bút nam trong thời đại thơ Mới và vẽ thêm vào bức tranh của thời đại thi ca ấy giọng thơ riêng với sắc màu nữ tính mềm mại, uyển chuyển:
“Một Anh Thơ chân tình mộc mạc, một Mộng Tuyết trong trẻo, hồn nhiên, một Ngân Giang tài hoa, cổ kính, một Hằng Phương đằm thắm, ngọt ngào, một Vân Đài duyên dáng dịu nhẹ…và bấy nhiêu thôi cũng đủ góp phần cho cung đàn thơ ca Việt Nam thêm đa dạng về âm sắc và giọng điệu”
(Trang 463, Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, Viện Văn học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002)
Cái ngoảnh nhìn lại của nữ sĩ Anh Thơ trên đây về những cây bút cùng thời, cùng giới với mình, đã phác hoạ nên đường nét phong cách của những nữ thi sĩ thời kỳ thơ Mới vốn bị lãng quên hay chỉ được chạm đến, nhắc đến một cách mờ nhạt, tạo nên một sự ứng đối với bức tranh quen thuộc từng in sâu vào tâm thức văn đàn mà Hoài Thanh khắc trổ rất ấn tượng, tinh tế:
“Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên... và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.”
(Trang 28, Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn Học, Hà Nội, 2008.)
Văn chương nữ đầu thế kỷ XX thực sự khởi sắc về lượng với sự xuất hiện của những cây bút nữ lưu bước chân ra từ chốn phòng the vốn lâu nay bị niêm phong kín cẩn bởi những quan niệm, những định kiến. Cùng với sự thay đổi và phát triển ý thức về giới, họ đã có thể kề vai sát cánh cùng người nam để hít thở chung không khí của xã hội, của thời đại. Trên một lát cắt ngắn ứng với giai đoạn đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945, sự hiện diện của gương mặt nữ giới đông đảo hơn, xôn xao hơn cả mười thế kỷ trước cộng lại và mỗi gương mặt lại có một nét vẻ riêng, một sắc màu riêng.
Thế nhưng, trên trục vận động của chiều dài lịch sử thi ca dân tộc, sự tồn tại ấy chưa đủ để tạo thành các vết khắc sâu về số lượng, về giá trị vào ký ức văn chương. Người ta nhớ đến sự xuất hiện của họ, nhưng ít ai bình luận và suy ngẫm về những đóng góp của các nhà thơ nữ một cách khoa học, sâu sắc và thấu đáo. Tất cả những ngòi bút nữ ấy như cùng nhau đi dự một buổi hội chợ tưng bừng, rộn rã khí thế trong buổi đầu đổi mới. Và khi hội tan, những tấm vé vào cổng đánh dấu sự hiện hữu đó chứ không phải là những dấu chân tồn lưu của giá trị. Trong non 20 tác giả nữ của văn xuôi Nam Bộ đầu thế kỷ XX thì chỉ có ngòi bút của Phan Thị Bạch Vân còn trụ lại được với thời gian và vượt quy luật đào thải của văn chương:
“Tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam Kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác phẩm in thành sách. (…) Các tác giả trên không để lại một tiếng vang nào ngoại trừ Phan Thị Bạch Vân, chủ nhân Nữ lưu thơ quán ở Gò Công”.
(Bằng Giang, Sài Gòn cố sự, NXB Văn Học, 1999)
Dấu ấn của nữ giới trong thơ Mới có đậm hơn, mang nhiều âm sắc và để lại một số nét độc đáo, nhưng khi sánh với những giá trị mà hàng loạt ngòi bút nam sừng sững như những cây đại thụ đã tạo nên cả một thời đại thi ca này: Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Liên, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương… thì họ chỉ như những nét mờ nhạt, đứng nép vào phía sau những vầng hào quang chói lọi của thơ Mới và nhường những tấm huân chương cho các cây bút nam. Hiện trạng này có những nguyên nhân của riêng nó, đồng thời, cũng phản ánh quy luật nội tại trong quá trình vận động lịch sử văn chương nữ, hay nói cách khác, đấy chính là hệ quả tất yếu khách quan của một thời kỳ lịch sử.
Bên cạnh đó, bộ phận tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn với hai ngòi bút chủ soái là Nhất Linh và Khái Hưng cũng đã đi tiên phong trong việc cất lên tiếng nói bênh vực và đấu tranh vì quyền bình đẳng cho người phụ nữ trong xã hội. Hình tượng người phụ nữ tân thời với hệ tư tưởng mới mẻ, chống đối lễ giáo phong kiến thủ cựu nặng nề và chế độ đại gia đình Nho giáo hà khắc là hình tượng trung tâm trong các sáng tác mang tính luận đề của bút nhóm này. Bằng bút pháp lãng mạn, các tiểu thuyết đã đưa người phụ nữ vượt thoát ra khỏi tình trạng tăm tối, bế tắc, chứa đựng nhiều mâu thuẫn gay gắt của các mối quan hệ xã hội, giành lấy quyền sống, quyền tự do cho chính mình và tạo dựng nên một viễn cảnh tươi sáng cho chính họ. Nhiều năm qua, vấn đề trên đã được các nhà phê bình và nghiên cứu văn học khảo sát rất kỹ lưỡng trong những công trình, những bài viết về Tự lực văn đoàn. Công trình này không đi vào tổng thuật chi tiết và cụ thể về nội dung tư tưởng của bút nhóm Tự lực văn đoàn ,nhìn từ góc độ của tư tưởng nữ quyền mà chỉ điểm qua như một thành tựu giá trị đã hòa vào tiến trình chung của dòng chảy văn học, đã đóng góp tiếng nói phản kháng sâu sắc, mạnh mẽ quyện lẫn với khao khát và ước mơ cho một con đường giải phóng phụ nữ, “đoạn tuyệt” với quá khứ và hướng đến tương lai.
3.                  Văn học nữ Nam bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX nhìn trên bình diện giá trị
Giá trị nội dung và tư tưởng
Nhìn một cách tổng quát, đóng góp lớn nhất, có giá trị nhất của bộ phận văn học nữ thời kỳ này chính là giá trị về mặt nội dung – tư tưởng. Bằng sáng tác thơ văn và các hoạt động xã hội khác: diễn thuyết, viết xã luận, thành lập các tổ chức hiệp hội của nữ giới, chủ trì và tham gia vào hoạt động báo chí, lập nên cơ quan ngôn luận riêng cho phụ nữ…, họ đã tạo nên một cuộc thức tỉnh lớn lao, toàn diện, một cơn đại hồng thủy về ý thức hệ nữ giới đầu thế kỷ XX. Bên cạnh đó, cùng với các cây bút nam, các tác giả nữ đã bộc lộ tinh thần yêu nước, ý thức về quyền sống, quyền tự do của dân tộc trong hoàn cảnh một đất nước bị thực dân xâm lấn. Đóng góp thứ hai là về mặt thể loại, họ đã nhanh chóng nhập cuộc, góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết hiện đại và thơ Mới. Có thể nói, sự nhạy bén đầy sức sống của nữ giới thời kỳ này đã là một yếu tố quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa tư duy và ngôn ngữ văn học. Và cuối cùng, sự xuất hiện của họ đã khiến cho diện mạo văn học từ đây trở nên đủ đầy hơn, trọn vẹn hơn, với nhiều nét vẻ, giọng điệu, thanh âm và hình hài, được tạo nên từ sự đa dạng về giới chứ không còn là hành trình đơn lẻ và độc chiếm của các tác giả nam như chuỗi thế kỷ dài trong quá khứ vừa qua.
Giá trị phong trào
Tuy vậy, những đóng góp của văn chương nữ lưu thời kỳ này chỉ khuôn trong các giá trị sàn, thuộc về mặt bằng chung chứ chưa thể tạo nên những đỉnh cao, những nhảy vọt tột bậc. Vì vậy, đây là một hệ giá trị phẳng. Họ xuất hiện nhiều và ít nhiều có bản lĩnh, nhưng họ chưa có bệ phóng và chưa đủ nội lực để làm nên một bộ phận thơ ca cho riêng giới của mình. Tính chất giá trị này là hệ quả của hoàn cảnh lịch sử khách quan cụ thể. Có thể thử lý giải điều này trên những nguyên nhân sau:
Trong giai đoạn đầu của quá trình thức tỉnh, về mặt tâm lý chung, người phụ nữ muốn tự khẳng định mình ở vị thế ngang bằng với nam giới trên mọi lĩnh vực. Chính vì vậy, về thực chất, họ vẫn lấy những cái chuẩn của nam giới làm thước đo giá trị và đưa những giá trị của mình lên ngang bằng với người nam, đứng vào vị thế của người nam. Giai đoạn này quả thực là một quá trình “nam hóa” theo như khái niệm mà Manh Manh nữ sĩ đã sử dụng. Truớc đây, trong xã hội nam quyền, người phụ nữ bị đẩy về phía đối lập và phải ở vào vị trí thấp so với giá trị được xã hội cho là chuẩn. Đầu thế kỷ XX, để cải thiện vai trò và vị trí của mình trên bậc thang giá trị, người phụ nữ nỗ lực tiến gần đến nam giới, trở thành giống như nam giới. Mục đích hàng đầu lúc bấy giờ là phụ nữ có thể ngang bằng với nam giới như thế nào và họ có khả năng thực hiện ra sao những điều mà bấy lâu nay nam giới đã làm, đã gặt hái những thành quả. Hẳn nhiên, như Nguyễn Thị Kiêm đã khẳng định, trong hành trình nam hóa này, người phụ nữ vẫn giữ “bổn sắc riêng” của mình chứ không bị đồng hóa. Thế nhưng, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, cái tương đồng được đặt lên trên cái khác biệt; giá trị chung được đặt lên trên giá trị bản sắc; ý thức về vai trò đi trước ý thức về bản thể. Từ địa vị của kẻ bên dưới, trước hết họ phải ngoi lên vị trí ngang bằng rồi sau đó mới tiến đến khẳng định sự khác biệt. Do đó, văn học nữ thời kỳ này chỉ tạo nên sự khác biệt về giọng điệu: mềm mại, uyển chuyển, tha thiết, đằm thắm và ngọt ngào, vốn là đặc trưng của nữ. Còn lại, nhìn chung, thế giới quan, nhân sinh quan, phương thức tư duy nghệ thuật, cách thức chiêm nghiệm và tái hiện cuộc sống… trong tác phẩm của họ đều không có gì khác với các tác giả nam: người nữ chưa tìm ra được tấm gương của riêng mình, nên phải soi qua tấm gương cũ kỹ của người nam.
Nguyên nhân thứ hai nằm ở tính chất của vùng đất mở đầu tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc. Nam Bộ nói chung, Sài Gòn nói riêng, là vùng đất mới. Bên cạnh tính chất mở, dễ dàng đón nhận cái mới và sự khác biệt, làm thành một trung tâm đa văn hoá, mảnh đất này dễ dàng cách tân, nhưng cũng sớm bão hòa. Hiện tượng ấy nằm ở con người và văn hoá. Con người Nam Bộ chân chất, mộc mạc, giản dị, giỏi hoạt động thực tiễn hơn làm văn chương nghệ thuật. Báo chí xuất hiện trước, là bệ đỡ của văn chương, nhưng đồng thời cũng báo chí hoá văn chương rất nhiều. Sức ép của một công chúng đông đảo thường xuyên mua báo cũng là lý do làm nhà văn chọn cách viết dễ hiểu, quen thuộc. Thêm vào đó, bề dày văn hóa, văn chương nơi đây chỉ cho phép những phong trào cất cánh với đường bay ngắn. Dễ nhận ra hiện tượng này trong đời sống văn học Việt Nam: con đường của tiểu thuyết hiện đại, thơ Mới… đã nói với chúng ta điều ấy. Văn học nữ quyền đầu thế kỷ phần lớn hình thành ở Sài Gòn, và có người ví von rằng văn học thời kì này nở rộ như hoa trong vườn, nhưng chỉ là những đoá hoa mùa đầu sẽ trở thành phân bón màu mỡ cho những mùa hoa rực rỡ về sau (Nguyễn Kim Anh, Vũ Ngọc, Hà Thanh Vân, Hoàng Tùng nghiên cứu, sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu, Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX, NXB TP.HCM, 2002).
Nguyên nhân thứ ba, văn học nữ quyền Việt Nam được sinh ra ngay trên ngưỡng cửa của giai đoạn giao thời. Tính chất quá độ đã tạo nên số phận của văn chương. Những người có khuynh hướng cách tân, trong đó, có mặt hầu hết các ngòi bút nữ, một mặt, họ vừa phải dứt bỏ một quá khứ dài gánh nặng hành trang thi pháp văn học trung đại. Mặt khác, họ vừa mang sứ mệnh lớn lao của kẻ đi khai khẩn một không gian văn học mới. Họ là con người của giao thời nên đứa con tinh thần của họ cũng in đậm tính chất cải lương. Đây là tình trạng chung chứ không riêng gì văn học nữ.
Giá trị mô phỏng
Cuối cùng, một đặc trưng khác của thời đại quy định tính chất và giá trị của nền văn học nữ thời kỳ này là hoàn cảnh đặc biệt của đất nước. Đối mặt với nhiệm vụ bức thiết của cộng đồng, giới nữ Việt Nam sát cánh cùng giới nam, những lằn ranh phân cách giới tạm thời bị mờ đi, trong đó có cả lằn ranh xã hội và lằn ranh tự nhiên. Chiến tranh đã kéo lìa người phụ nữ ra khỏi môi trường tự nhiên là cuộc sống đời thường. Cùng gồng mình lên, hướng về một mục tiêu chung, ý thức công dân đặt trên ý thức cá nhân, huy động tối đa ý chí như nam giới, nữ giới chấp nhận một nền văn học mô phỏng, và có lẽ không chỉ mô phỏng nam giới mà mô phỏng tiếng nói, ý nghĩ, xúc cảm của cả một cộng đồng.
Điểm nhìn “lạ hóa” từ xuất phát điểm của bản thể tính nữ chỉ là một vài điểm nhấn, tuy ấn tượng, đầy rung động, nhưng chỉ điểm xuyết một cách lẻ loi. Chỉ có một sự cảm nghiệm nỗi đau thấm thía, đậm đà tính nữ mới có thể rùng mình “khăn trở lạnh đầu voi”, mới làm cho 4 câu cuối trong bài Trưng Nữ Vương của Ngân Giang khiến người ta ngỡ ngàng, rung động, tê tái đến vậy. Và 4 câu thơ cuối ấy trở thành một huyền thoại thi ca mạnh mẽ, u buồn khi kết phận với cơn đột tử của Đông Hồ:
“Ải bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi”
(Trưng Nữ Vương – Ngân Giang)
Thế nhưng, lần ngược lên 4 khổ thơ trên, chúng ta vẫn thấy một giọng điệu bi tráng, hiên ngang, tràn trề khí phách của sự mô phỏng tính nam, mô phỏng con người phận vị vốn là đặc thù của đấng nam nhi thời phong kiến. “Gạt gió chim bằng, đường kiếm mã, thù vạn cổ, lời tuyết hận, bụi trần ai” (Trưng Nữ Vương – Ngân Giang)…, những hình ảnh ước lệ gắn chặt với giọng thơ đã khiến cho thanh âm nữ bị phai nhạt đi, mờ khuất đi. Giọng điệu mang khí sắc riêng của nữ giới: thâm trầm, dịu nhẹ, êm ắng cũng vẫn là một chất giọng chưa đủ để tạo ra bầu khí quyển riêng biệt của thơ nữ lúc bấy giờ, khi con mắt của những nữ sĩ đầu thế kỷ vẫn nhuốm cái nhìn của “người đồng nghiệp” nam giới vốn đã lập thế vững chãi trong văn chương suốt nghìn năm qua.
Chính vì vậy, trên văn đàn nữ nhi lúc bấy giờ, chúng ta nghe thấy cái giọng phỏng cổ tràn trề nam tính, ví như nỗi niềm tự trào bất đắc chí chừng quá quen thuộc trong thơ ca Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ:
“Nghĩ mình lại ngán cho mình
Chẳng có chi mà lại có danh
Không thế, không thần, không sự nghiệp
Dở tiên dở tục dở tu hành
Bầu vơi rượu thánh hồn lai láng
Túi nhẹ thơ tiên trí quẩn quanh
Đạo hữu ơ hay đâu vắng nhỉ
Biết ai đàm đạo mấy câu kinh”
(Tự trào – Cao Ngọc Anh)
Hoặc khi hòa vào không khí chung trong những năm đầu của cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, người phụ nữ làm thơ cất giọng lên bằng âm hưởng cộng đồng. Tiếng gọi cổ vũ cho tinh thần yêu nước mang thanh sắc nữ trong trẻo, gần gũi, thanh thoát và nhuần nhị, dịu nhẹ nhưng vẫn là cái giọng chung, giọng cộng đồng, không hùng tráng, lẫm liệt bằng giọng nam nhưng thêm vào rất nhiều cái dư vị thủ thỉ tha thiết:
“Hồng Lạc người chung một giống nòi
Có đâu Nam Bắc đất chia hai
Xót tình máu mủ cơn nguy biến
Xẻ áo nhường cơn ai hỡi ai

Máu chảy ruột mềm đau xót lắm
Rách lành đùm bọc lấy cho nhau
Trong nhà đang có người kêu đói
Xẻ áo nhường cơm mau hỡi mau”
(Xẻ áo nhường cơm – Mộng Tuyết)
Như vậy, có thể thấy rằng, văn học nữ thời kì này vẫn chưa tự tách mình khỏi “chiếc xương sườn Adam”. Tiếng nói của họ đã bắt đầu xôn xao trên văn đàn, nhưng chưa rõ rệt hình hài, thanh sắc, chưa mang giọng điệu riêng từ cái nhìn riêng của người phụ nữ. Đôi mắt của họ hướng ra ngoại giới nhiều hơn là xoáy sâu vào nội giới và đấy vẫn là ngoại giới được thẩm thấu qua lăng kính mô phỏng nam giới.
Có những bài thơ bộc bạch tâm tình nữ nhi, phần nhiều là những cảm xúc nam nữ trong trẻo, ý nhị, những nỗi nhớ niềm thương nhỏ nhắn giữa đời thường như “Hai cô thiếu nữ” của Manh Manh nữ sĩ, “Em bị cười”, “Em trả thù”, “Em xấu hổ”, “Làm cô gái Huế” của Mộng Tuyết… gợi nhắc đến những vần thơ của J. Leiba trong “Năm qua”, của Đông Hồ trong “Mua áo”, “Tuổi xuân”, “Bốn cái hôn”… Họ chỉ khác nhau ở ngôi kể, chủ thể kể chuyện, nhưng vẫn là câu chuyện “anh, em” bằng một giọng điệu, một điểm nhìn. Những vấn đề cá nhân của người phụ nữ, những cảm nghiệm riêng thuộc về phạm trù thiên tính nữ chưa thực sự in đậm dấu ấn trong đời sống thi ca nữ giới lúc bấy giờ.
KẾT LUẬN
           Nhìn chung, từ đầu thế kỷ XX, trên văn đàn Nam Bộ, tiếng nói về người phụ nữ và của người phụ nữ đã thực sự là một tiếng nói có âm sắc, có điểm nhấn, tạo nên nhiều hương vị riêng cho thơ ca lúc bấy giờ. Trên phương diện lý luận, phê bình, ý thức nữ quyền tiếp thu từ tư tưởng nữ quyền đang tạo nên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ ở các nước phương Tây lúc bấy giờ đã đặt những viên gạch nền tảng đầu tiên cho nghiên cứu, phê bình văn học nữ quyền của Việt Nam.
Một số vấn đề cơ bản, cốt lõi mang tính lập thuyết đã được Phan Khôi, Manh Manh nữ sĩ đề cập đến. Riêng Phan Khôi đã có sự “thực hành” lý thuyết vào việc nghiên cứu các tác phẩm văn học cụ thể. Thế nhưng, những nghiên cứu của ông chỉ chủ yếu đi vào bộ phận văn học dân gian mà chưa hướng đến nhận định mảng văn học nữ lúc bấy giờ. Đồng thời, càng về sau, những tranh luận về nữ quyền giữa các tác giả, các học giả càng có khuynh hướng đi vào những vấn đề xã hội hơn là những vấn đề đặc thù của văn học. Và cuối cùng, khi thời vàng kim của thơ Mới qua đi, vấn đề văn học nữ quyền cũng lùi ra hậu đài, trở nên im ắng và nhường chỗ cho những khuynh hướng nghiên cứu, phê bình khác. Do đó, ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX chỉ mới ngưng tụ ở dạng phác thảo chứ chưa hình thành nên một hệ thống tư tưởng, một khuynh hướng nghiên cứu rõ ràng, mạnh mẽ.
            Bên cạnh đó, hoạt động sáng tác của nữ giới khởi sắc. Họ nhanh chóng tiếp thu các thành tựu mới mẻ trong thi ca và tham gia vào tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc. Người phụ nữ cầm bút đầu thế kỷ XX đã mạnh dạn và hăm hở đi theo “một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” (Phan Khôi), sáng tác bằng phong thái tự do cả về cảm xúc và hình thức. Thế nhưng, hầu hết các cây bút nữ chưa tạo ra được sự đột phá riêng biệt về mặt phong cách, nên không hình thành những đỉnh cao sánh ngang với những gương mặt nổi bật của thơ Mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính… Sáng tác của họ còn mang nặng tính mô phỏng nam giới và mô phỏng cái nhìn chung của cộng đồng. Đặc biệt, các cây bút nữ ở Nam bộ đã sớm mang ý thức đấu tranh giải phóng dân tộc và trách nhiệm công dân. Thậm chí, khuynh hướng này bộc lộ ở sáng tác của họ một cách rõ nét hơn cả những tác giả nam thời kì thơ Mới. Thế nhưng, bản thể tính nữ chưa thực sự trỗi dậy một cách mạnh mẽ, chưa hình thành nên một giọng nói của chủ thể nữ trong sáng tác văn học thời bấy giờ. Người phụ nữ ở đây vẫn nhìn mình như một đối tượng, tức là tự nhìn mình bằng cái nhìn từ bên ngoài vào hơn là nhìn mình bằng cái nhìn về chính bản thân chủ thể, cái nhìn từ bên trong. Và đôi mắt của họ chủ yếu hướng ra thế giới bên ngoài, ra đời sống xã hội cùng với hiện thực sôi nổi của trào lưu đấu tranh giải phóng dân tộc lúc bấy giờ.
            Tóm lại, văn học nữ thời kì này đã trở thành một bộ phận riêng với sự xuất hiện đông đúc của những gương mặt nữ chứ không còn im ắng, vắng bóng và hiện diện đơn lẻ, “lép kẹp” như trong thời kì văn học trung đại. Thế nhưng, bộ phận văn học này hiện nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đặn, đúng mức. Việc nhìn nhận lại những đặc điểm, giá trị của văn học nữ thời kì này sẽ là một điểm mốc quan trọng cho quá trình nghiên cứu văn học nữ của Việt Nam dưới ánh sáng của phê bình nữ quyền. Đồng thời, những kiến giải, nhận định và những vấn đề được đặt ra trong các bài viết của Phan Khôi, Manh Manh nữ sĩ - Nguyễn Thị Kim, Thế Phụng và nhiều cây bút cùng thời cũng cần được khảo sát theo hệ thống để từ đấy xác lập và phát triển những đặc trưng của lý luận, phê bình nữ quyền ở Việt Nam.                       
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.                  Trần Thúy An (2008), Người phụ nữ qua cái nhìn hiện đại của một số nhà văn nữ, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM.
2.                  Nguyễn Kim Anh, Vũ Ngọc, Hà Thanh Vân, Hoàng Tùng, nghiên cứu, sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu (2002), Thơ văn Nữ Nam bộ thế kỉ XX, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh.
3.                  Nhuệ Anh (2006), “Các nhà văn nữ của “thế kỉ nàng”, Tạp chí Văn nghệ, số 21.
4.                  Nguyễn Đăng Điệp (2006), Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam, Bài viết tham dự Hội thảo Khoa học Quốc tế Hà Nội.
5.                  Bằng Giang, Sài Gòn cố sự, NXB Văn Học, 1999.
6.                  Đặng Thị Hạnh (2006), Các nhà văn nữ và một số thể loại hư cấu trong văn học phương Tây và văn học Việt Nam hiện đại, Bài viết tham dự Hội thảo Khoa học Quốc tế Hà Nội.
7.                  Vũ Ngọc Khánh, Mai Ngọc Chúc, Phạm Hồng Hà (2002), Nữ thần và thánh mẫu ở Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà Nội.
8.                  Nguyễn Linh Khiếu (chủ biên) (1999), Nghiên cứu và đào tạo giới ở Việt Nam, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
9.                  Nhiều tác giả (1929 – 1932), Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, xuất bản từ năm 1929 đến năm 1932.
10.              Vương Trí Nhàn ghi chép (1996), “Phụ nữ và sáng tác văn chương”, Tạp chí văn học, số 6.
11.              Nhiều tác giả (1929 – 1932), Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, xuất bản từ năm 1929 đến năm 1932.
12.              Hoàng Ngọc Phách (1920), “Văn chương nữ giới – Cái hại văn cảm đối với nữ học sinh”, Tạp chí Nam Phong, số 41.
13.              Lê Ngọc Phương (2006), Sự thức tỉnh của người phụ nữ trong văn học Nam bộ đầu thế kỉ XX (Đề tài nghiên cứu khoa học), Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc Gia TP.HCM.
14.              Phỏng vấn 10 nhà văn nữ trong và ngoài nước (2005), “Có một cách viết nữ hay không”, www.gio-o.com.
15.              Phỏng vấn Y Ban (2006), “Hãy lắng nghe tác phẩm của nhà văn nữ”, http://vietbao.vn.
16.              Văn Tân (1957), Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ và văn học, NXB. Văn Sử Địa, Hà Nội.
17.              Lê Ngọc Văn (1996), Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa, NXB. Giáo dục, Hà Nội.
18.              Lê Ngọc Văn (2007), Nghiên cứu gia đình – Lý thuyết nữ quyền, quan điểm giới, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
19.              Trần Hồng Vân (2001), Tìm hiểu xã hội học về giới, NXB. Phụ nữ, Hà Nội.
20.              Phạm Nguyễn Tuyết Vân (2001), Chủ nghĩa nữ quyền dưới cái nhìn của Helen Garner (Đề tài nghiên cứu khoa học), Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc Gia TP.HCM.

Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012


TỪ QUAN NIỆM VỀ LỐI VIẾT NỮ (L’ÉCRITURE FÉMININE) ĐẾN  VIỆC XÁC LẬP  MỘT PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG        PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN*
Hồ Khánh Vân

1.Những quan niệm về lối viết nữ (L’écriture féminine)
Khi tiếp cận bộ phận văn học nữ trên diện rộng, các nhà nghiên cứu và lý luận phê bình đều nhận ra một cách viết nữ riêng biệt, có những đặc trưng khác với văn học truyền thống do các cây bút nam giới ngự trị. Những nhà phê bình Pháp gọi đấy là lối viết nữ (L’écriture féminine), nghĩa là một phương thức tư duy và thể hiện văn bản nghệ thuật mang phong cách nữ giới. Thế nhưng, khái niệm này vừa xuất hiện như một nguyên lý tất yếu trên hầu khắp các sáng tác của phụ nữ, lại vừa tồn tại ở ranh giới mong manh, mơ hồ của khoa học và phi khoa học, hiện hữu và phi hiện hữu, khả tri và bất khả tri. Sự cảm nhận về lối viết nữ là một cảm nhận khoa học khá rõ ràng và mạnh mẽ, tuy vậy, để lý giải logic và khách quan, để đi đến tận cùng căn nguyên cốt lõi của lối viết nữ ấy thì không phải là một điều dễ dàng, rành mạch. Thậm chí, như chúng tôi đã trình bày, nhiều nhà phê bình nữ quyền vẫn băn khoăn và đặt ra câu hỏi là có một lối viết nữ thực sự hay không? Và có thể có một nền văn học nữ tự trị hay không?
Các nhà phê bình nữ quyền phân tâm học và giải cấu trúc của Pháp, tiêu biểu là Hélène Cixous, có một quan niệm rõ ràng về lối viết nữ.
Điểm trọng tâm trong lý thuyết nữ quyền của Cixous là mối quan hệ giữa giới tính và diễn ngôn, từ đó hình thành nên ý niệm về phong cách tu từ riêng của nữ giới, về một lối viết nữ (L’écriture féminine). Từ những năm 1970, bà đã thể hiện tư tưởng của mình trong các tác phẩm như Một chuyến đi (Sortie), Tiếng cười nàng Medusa (The laugh of the Medusa) và Đến để viết (Coming to writing). Nhà phê bình nữ này khẳng định rằng suốt nhiều thế kỷ qua, người phụ nữ hoàn toàn vắng bóng trong hoạt động diễn ngôn. Họ không được bộc lộ suy nghĩ, lời nói của mình, không được tạo ra mối quan hệ tương tác để hình thành nên sự giao tiếp với các cá thể xã hội. Vì vậy, thế giới bên trong của nữ giới hoàn toàn khép kín và họ cũng bị cấm vận với cuộc sống xã hội. Cixous nói một cách thẳng thắn rằng sự ngây thơ của người phụ nữ đồng nghĩa với sự ngu dốt khi những tri thức đời sống và khoa học hoàn toàn kín bưng trước con mắt của phái nữ.
Hơn nữa, đến thời hiện đại, khi người phụ nữ được nói và viết một cách công khai, thì họ lại vay mượn lối nói của nam giới chứ không có một hệ thống tu từ đặc trưng của giới mình. Ngôn ngữ và giới tính chỉ có một mối quan hệ lỏng lẻo và bị những quy luật của nam giới chế ngự. Cixous viết rằng: “Nhìn lại những câu chuyện được kể trong điện ảnh và văn học, chúng ta thấy rằng tất cả đều được thể hiện từ góc nhìn của nam giới” (1). Trong nhiều tiểu luận, bà luôn khẳng định phụ nữ phải có hệ thống ngôn ngữ riêng phù hợp với bản thể giới tính của họ, để biểu đạt những đặc thù riêng biệt của mình mà giới khác không có. Cixous cũng nhấn mạnh rằng cái bà muốn xác lập và tựa vào là tính không cân xứng giữa hai giới chứ không phải thứ bậc của giới này đối với giới kia. Vì vậy, trong Tiếng cười nàng Medusa, bà đã phủ định hệ thống nhị nguyên mang tính thống trị phân chia các cặp khái niệm: đồng nhất/khác biệt, con người/tự nhiên, trật tự/hỗn độn, hoạt động/thụ động, ngôn ngữ/im lặng, hiện diện/vắng mặt, sáng/tối, nam giới/nữ giới thành những đối cực tích cực và tiêu cực do nam giới xác lập và in hằn trong tư tưởng của xã hội phụ quyền. Theo sự phân định này, phụ nữ luôn ở vị thế bên dưới và đối lập với nam giới.
Cuốn tiểu luận nổi tiếng Tiếng cười nàng Medusa ra đời vào năm 1975 của Hélène Cixous dùng hình tượng nhân vật Medusa, người đàn bà tóc rắn có ánh nhìn làm đàn ông hóa đá trong thần thoại Hy Lạp, làm hình tượng ẩn dụ để thể hiện quan niệm của mình về ngôn ngữ văn chương  và hoạt động viết văn của nữ giới. Bà phản bác lại kiến giải của Freud cho rằng tóc rắn là hình ảnh của dương vật và Medusa là người đàn bà có nhiều dương vật, khác với phụ nữ, theo định nghĩa của Freud, vốn là những kẻ mất chim, kẻ bị thiến hoạn. Vì vậy, hình tượng Medusa thể hiện nỗi sợ bị thiến của phụ nữ. Sự diễn giải của Freud mang đậm thiên kiến của cái nhìn duy dương vật, đặt nam giới vào trung tâm và định nghĩa tất cả mọi sự tồn tại bằng biểu tượng giới tính của nam giới là cái dương vật. Hélène khẳng định rằng thân thể và tính dục của phụ nữ không có mối quan hệ với sinh thực khí của nam giới, mà trước hết, khoái cảm nhục thể cũng như thân xác người phụ nữ tồn tại bằng chính nó, là cái tự nó, là cái “tôi” chủ thể của giới nữ.
Từ khởi điểm lập luận đó, Hélène Cixous diễn giải quan điểm của mình về sự hình thành và đặc trưng của lối viết nữ. Với bà, điều quan trọng đối với lối viết riêng của nữ giới không phải là chữ, là ngôn từ, không phải là sự phát minh ra những ký hiệu biểu đạt mới, mà là “cá nhân người nữ phải viết chính mình, phải khám phá cho riêng mình cơ thể mình cảm thấy như thế nào, và làm sao để viết về thân thể ấy trong ngôn ngữ. Rõ ràng hơn, phụ nữ phải tìm ra dục tính của mình, dục tính chỉ bắt nguồn từ thân thể của họ, và tìm cách viết về khoái cảm ấy”(2.) Đồng thời, bằng lối biểu đạt đặc thù, người phụ nữ viết văn sẽ phá vỡ cấu trúc và trật tự những biểu tượng được xác lập và cố định trong diễn ngôn nam giới.
Như vậy, các nhà phê bình nữ quyền Pháp cho rằng cần phải triệt tiêu hẳn cái nhìn mang tính đối lập dựa trên những cặp phạm trù đối nghịch: nam tính (masculinité), nữ tính (féminilité) và lưỡng tính (bisexualiteu). Việc thiết lập sự đối nghịch này vô hình trung dẫn đến hệ quả là cái này sẽ xóa bỏ cái kia, phủ định cái kia. Trong khi đó, những phạm trù này vẫn song song tồn tại. Lịch sử loài người đã diễn ra với hiện thực nam giới áp chế nữ giới kéo dài suốt hai mươi thế kỷ dài và kiến tạo một nền văn hoá duy dương vật có tính thống trị tuyệt đối. Chính vì vậy, khi cầm bút sáng tác, người phụ nữ viết bằng thế nhị nguyên, vừa mang những giá trị nam giới cố định đã trở thành những nền tảng và nguyên tắc chung cho cả loài người, vừa bộc lộ những đặc tính riêng của nữ giới. Ngôn ngữ viết của họ sẽ là ngôn ngữ trở về với bản thể Mẫu từ thời kỳ tiền Oedipe khi đứa trẻ chưa tách rời khỏi người mẹ và nhận thức về chính bản thân mình.
Trong khi đó, phê bình nữ quyền Mỹ mở lối đi khai phá vào một nền mỹ học nữ. Dựa trên tư tưởng và đặc tính của nữ giới, họ đặt ra mục đích khắc sâu sự hình thành một lối viết nữ trong những diễn ngôn sáng tác và phê bình của phụ nữ:
Chỉ có thể nhận thức và thể hiện người phụ nữ bằng việc yêu cầu một phong cách văn chương mang tính phản ánh, bộc lộ rõ và biểu trưng cho đặc tính tư tưởng của chúng ta, một phong cách đứt đoạn và nối tiếp khác biệt với phong cách phức tạp, phụ thuộc và tuyến tính của phong cách truyền thống. (3)
Cũng có cùng chung một ý hướng, các nhà phê bình nữ quyền ở Ý đã khảo sát sự khác biệt giới tính trong hệ thống từ ngữ, ngữ pháp, cấu trúc và cách thức diễn đạt… Họ xem đấy là một cuộc cách mạng nhằm lật đổ các quan niệm và giá trị cũ, tạo dựng nên một nền diễn ngôn độc lập cho người phụ nữ cầm bút: “Một trận chiến vì lẽ phải của sự biểu lộ, của ngôn từ, vì quyền tự do được khẳng định bản thân và được định đoạt cho chính mình”(4). Một nữ nhà văn đã từng trăn trở tìm kiếm một hệ ngôn ngữ riêng để diễn tả những trạng thái, những ý niệm của nữ giới mà cái áo ngôn từ vốn có trở nên cũ và chật hẹp, không còn khả năng dung chứa và chuyển tải nổi:
Khi tôi muốn viết về sự nhạy cảm, những trải nghiệm và khuynh hướng phê bình của người phụ nữ thì tôi không thể tìm ra được những từ ngữ… Bây giờ tôi chỉ có thể bắt đầu chú trọng một cách có hệ thống vào những thành kiến giới tính trong ngôn ngữ, vào ngôn ngữ nữ và văn học nữ, tôi chỉ có thể bắt đầu bằng sự thuật lại cuộc sống của người phụ nữ.(5)
Nhà phê bình người Pháp Béatrice Didier cho rằng sự tác động của bối cảnh lịch sử, xã hội đến quá trình sáng tác vô cùng lớn lao nên không thể nhìn nhận một cách tổng quan toàn bộ tác phẩn của các tác giả nữ thuộc những gian đoạn lịch sử, những bối cảnh xã hội khác nhau. Chính vì vậy, Béatrice Didier không quan niệm văn học nữ như một nền văn học chiều dài lịch sử riêng biệt. Tuy nhiên, nữ phê bình gia chuyên nghiên cứu về Stendhal và George Sand này lại thừa nhận có sự tồn tại của cái gọi là “văn viết nữ” (L’écriture-femme) và lấy khái niệm này làm tựa đề cho tập tiểu luận của mình. Béatrice Didier đã phân tích những đặc trưng riêng biệt trong sáng tác của nữ giới trên các phương diện: thể loại (thường thiên về tự truyện), hệ đề tài (thời thơ ấu, người mẹ), phương thức sáng tác (gắn liền với thế giới cảm xúc phong phú) và cấu trúc tác phẩm (cấu trúc thời gian gẫy khúc, đứt đoạn và đan xen theo chu kỳ)…
Theo quan điểm của Elaine Showalter, nhà phê bình nữ quyền hàng đầu của Mỹ, mỹ học nữ là một hệ thống có cơ sở hình thành nền tảng nhưng có cái gốc tồn tại non yếu trầm trọng để có thể đứng vững, đặc biệt là khi nghiên cứu khoa học đòi hỏi hệ thống này phải minh chứng bằng thực nghiệm. Julia Kristeva thể hiện rõ khuynh hướng phủ nhận việc xác định sự khác biệt giới trong văn phong: “Không có bất kỳ điều gì thuộc những tác phẩm đã xuất bản trong cả quá khứ và hiện tại của nữ giới có thể đưa chúng ta đến sự khẳng định quả quyết rằng đó là một lối viết nữ”(6.)
Đây cũng là một vấn đề thu hút sự chú ý của những người làm công tác văn học ở Việt Nam như một phản ứng tự nhiên, bởi một nguyên nhân cơ bản: khi nói đến văn học nữ, thì trên quan điểm giới tính, phải luôn có sự phân định những điểm khác biệt so với văn học nam. Trong cuộc trao đổi về Phụ nữ và sáng tác văn chương (Tạp chí Văn học, số 6, năm 1996), Vương Trí Nhàn nhấn mạnh đến đặc tính của người phụ nữ và lý giải đấy là nguyên nhân tác động đến phạm vi nội dung hiện thực thường được tái hiện trên trang viết của họ:
Hình như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới. Họ luôn gần với cái lỉnh kỉnh, dở dang của đời sống. Mặt khác, với cái cực đoan sẵn có – tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp nhặt, dữ dằn cũng không ai bằng - từng cây bút phụ nữ tìm ra mặt mạnh của mình khá sớm, định hình khá sớm.(7)
Trong một cuộc phỏng vấn, các nhà văn nữ của văn học hiện đại Việt Nam cũng đã thể hiện những tuyến quan điểm khác nhau. Y Ban, Hoàng Thị Bích Ti và Vũ Quỳnh Hương cho rằng không có khái niệm gọi là dòng văn học nữ hay lối viết nữ và khi định danh như vậy thì cũng đồng nghĩa với việc phân biệt giới tính trong văn học. Sự phân biệt này lại có khuynh hướng tương đương với mọi phân biệt bất bình đẳng giới khác mà người phụ nữ đã hứng chịu trong trạng thái bị khinh rẻ và chối bỏ xuyên suốt hàng thế kỷ.
Ở phía đối lập về cách nhìn, Võ Thị Hảo, Lê Thị Huệ, Trần Thùy Mai, Trần Thị Trường khẳng định có một lối viết riêng biệt của nữ giới, thậm chí rất đậm nét ở cả mục đích viết, phương thức diễn đạt, nghệ thuật xây dựng tác phẩm, quan niệm và cách cảm nhận về thế giới và con người… Nhà văn Lê Thị Huệ khẳng định động lực sáng tác của mình như một sự kháng cự đối với nền văn học nam giới áp đảo đã đặt ra những tiêu chuẩn mặc định để phán quyết sản phẩm tinh thần của phụ nữ bằng những suy nghĩ bộc trực của văn nói, chân thành và khá quyết liệt:
“Một trong những lý do tôi cầm bút có lẽ vì đã phải đọc quá nhiều tác phẩm do đàn ông viết.
Thuở còn học trung học tôi thường tự hỏi là tại sao mình phải học đi học lại những câu thơ của Nguyễn Công Trứ. “Chí làm trai dọc ngang ngang dọc. Nợ tang bồng vay trả trả vay”. Tôi thấy tôi chẳng dính tí xíu nào vào trong đấy cả. Nghĩa là tác giả viết những câu thơ ấy cho các độc giả nam của ổng. Tôi là con gái đâu có được xơ múi gì trong bài thơ trên sao lại bắt tôi học thuộc và bình đi bình lại hoài vậy“. (8)
Thể hiện một cách nhìn khác, một số nhà văn khẳng định mỗi tác giả đều có một phong cách riêng, một lối viết riêng và giới tính của người viết không phải là vấn đề quan trọng.
Ngô Thị Kim Cúc cho rằng: “mỗi nhà văn đều có cách viết, cách diễn đạt mang dấu ấn riêng của mình, dù là nam hay nữ” và  khi nhà văn nữ có ý thức, có quan điểm riêng về giới thì “tự thân tác phẩm sẽ bộc lộ những gì tác giả muốn gởi gắm. Điều này cộng với một số yếu tố như tâm lý, cái nhìn khác biệt của phụ nữ có thể khiến dễ lộ những dấu hiệu riêng được hiểu là “cách viết nữ “”(9)
Nguyễn Thị Minh Ngọc đem trải nghiệm sáng của cá nhân để làm điểm tựa cho cái nhìn không nhấn mạnh trọng tâm giới tính của mình: “Khi viết, ít khi tôi phải tự nhắc mình rằng mình đang là một phụ nữ nên chẳng phải dè chừng đến phái nam, và càng không cố tìm cho ra một “cách viết nữ”. Theo tôi thì có những con người hay cách viết nhân hậu, độc ác, sắc sảo, khờ khạo, lừa đảo, trung thực …. không phân biệt nữ, nam …” (10).
Nhìn chung, các nhà văn dù thể hiện quan niệm nào, thậm chí cả quan niệm cho rằng không có khái niệm gọi là văn học nữ hay cách viết nữ thì họ, đứng từ phía người sáng tác, cũng bộc lộ sự tri nhận nhất định về đặc trưng riêng của người phụ nữ khi cầm bút. Như Y Ban, dường như phủ định khá dứt khoát: “Theo tôi không có dòng văn học nữ” nhưng vẫn chỉ ra điểm nổi bật của thiên tính nữ trong sáng tác văn học khi đề cập đến “sự tinh tế và sâu sắc nổi trội” của họ (11).
Cũng như nhà văn Hoàng Thị Bích Ti, dù chỉ đặt ra một giả định về sự tồn tại của khái niệm này và lý giải bằng cách đơn giản hoá lối viết nữ khi chỉ quy về cách thức tư duy nghệ thuật khác biệt về nhân vật và cốt truyện của nhà văn nữ so với các đồng nghiệp nam:
“Nếu trong văn phong có biểu hiện được một cách viết nữ thì đó cũng là một sự dẫn nhập tự nhiên trong lối suy nghĩ về nhân vật hay cốt truyện mà thôi. Đối với tôi, điều quan trọng là mỗi một nhà văn phải có một cái riêng, một cách viết riêng “personal style”” (12)
thì vẫn cho thấy rằng “sự dẫn nhập tự nhiên” ấy là một yếu tố thuộc tính để định hình nên phương thức sáng tác của nữ giới.
Theo chúng tôi, những tuyến quan niệm trái ngược trong cách nhìn nhận của các tác giả về vấn đề này nảy sinh từ nguyên nhân các tác giả chưa có sự thống nhất trong cách hiểu về các khái niệm. Ở đây tồn tại sự lẫn lộn giữa cách hiểu thông thường và cách hiểu khoa học, thậm chí còn có sự đánh tráo giữa những khái niệm cơ bản như lối viết nữ và phong cách sáng tác của cá nhân nhà văn, quan niệm giới nhìn từ giá trị nội tại và quan niệm giới nhìn từ giá trị xã hội. Chính vì vậy, họ đặt lối viết nữ trong mối tương quan với những khái niệm không cùng một hệ quy chiếu. Nhà văn Trần Diệu Hằng cũng đã “cảnh tỉnh” vấn đề hiểu cho đúng khái niệm rồi mới quan niệm về khái niệm ấy như là hạt nhân cơ sở cho mọi lý giải:
“Phần riêng tôi, hiện cũng đang tìm hiểu và suy nghĩ  về vấn đề gai góc này khi chạm vào cụm từ “woman’s style, écriture féminine” được hiểu theo một lối diễn giải khá chuyên môn, một khái niệm mới mẻ trong lý thuyết văn học nữ quyền hiện đại. Vấn đề này cho đến hôm nay, sau khi đã được những nhà nghiên cứu lý thuyết văn học phái nữ  Pháp đưa ra từ những năm cuối của thập niên 70, tuy không còn xa lạ đối với giới nghiên cứu văn học Âu Mỹ nhưng theo chỗ tôi biết, nó còn khá xa lạ đối với giới nghiên cứu văn học ta (cả trong lẫn ngoài nước)” (13).
2. Từ lối viết nữ, xác lập một phương pháp nghiên cứu trong phê bình nữ quyền
Theo quan điểm riêng, chúng tôi thống nhất với cách hiểu của các nhà phê bình Pháp khi nhấn mạnh tính nhị nguyên trong sáng tác nữ giới. Thứ nhất, cần có sự phân biệt giữa cái khác biệt và cái mang giá trị. Khi nhìn về dòng văn học nữ trong mối tương quan với văn học nam giới, việc nhận thức và phân tích sự khác biệt là để xác định đặc trưng sáng tác của mỗi giới, nghĩa là giá trị nội tại được tạo ra từ thuộc tính giới, gắn liền với thuộc tính giới. Điều này không đồng nhất với giá trị được quy chiếu từ sự mặc định của quan niệm xã hội về giới nhằm đề cao người nam và hạ thấp người nữ. Khác biệt và bất bình đẳng là hai phạm trù khác nhau và chúng có mối liên hệ với nhau hay không còn tùy thuộc vào điểm nhìn, vào phương diện nhìn nhận từ văn học hay từ xã hội, hoặc cũng có thể từ những lĩnh vực hoạt động khác của con người.
Thứ hai, sự khác biệt phải đặt trên cái nền của sự tương đồng và những yếu tố nền tảng chung cho cả hai giới. Một mặt, nam giới và nữ giới đều sở hữu những giá trị chung của con người. Điều này làm nên những giao điểm trong sáng tác của họ. Mặt khác, người phụ nữ đã sống trong môi trường văn hoá mang tính áp chế của nam giới và nhiều nguyên lý nền tảng chung cho cả loài người đã được nền văn hoá ấy thiết lập, như G. Jung đã từng nói rằng “uy quyền của đàn ông” qua chiều dài lịch sử đã ngấm sâu đến mức biến thành “vô thức tập thể”(14). Chính vì vậy, phụ nữ không thể thoát ly hoàn toàn và đứt lìa hẳn với quá khứ, với hiện tại mà về cơ bản cũng là sự nối dài của quá khứ với các giá trị kế thừa cố định. Khi đặt bút sáng tác, trên trang giấy của họ xuất hiện đồng thời cái bóng riêng biệt của nữ giới trong cái bóng lớn của môi trường văn hoá – xã hội.
Bên cạnh đó, sự tồn tại của “lối viết nữ” ấy không chỉ phụ thuộc vào ý thức của người sáng tác về nó, mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào nội tại thế giới tác phẩm mà các nhà văn nữ đã làm nên. Tác phẩm, đó là nơi mà phương thức nghệ thuật sáng tạo của nhà văn được thể hiện, bộc lộ, chứng minh sự hiện diện của mình. Hay nói cách khác, chỉ có chính bản thân tác phẩm mới là thẻ căn cước cho mọi yếu tố thuộc về văn học, như lý thuyết tiếp nhận – một hệ lý thuyết từng đưa văn bản tác phẩm vào vị trí trung tâm trong mối quan hệ với người đọc và tạo ra cuộc cách mạng về quan niệm tiếp nhận tác phẩm trong thế kỷ XX – đã khẳng định. Do đó, để tìm hiểu về vấn đề này, ngoài việc dựa vào quan niệm sáng tác của nhà văn – như một kênh thông tin, thì điều quan trọng là phải thực hiện một cuộc nội soi vào hệ thống tác phẩm để tìm ra các đặc điểm thi pháp riêng của văn học nữ.
Từ đấy, chúng tôi đề ra một phương pháp tiếp cận tác phẩm theo hệ trục của sự khác biệt dựa trên nền tảng tương đồng, bao gồm những nguyên lý, những đặc trưng chung của sáng tác văn học từ điểm nhìn giới tính. Nếu đi theo cách tiếp cận truyền thống vốn tồn tại trong nghiên cứu văn học lâu nay là đặt tác phẩm dưới ánh sáng của hai phương diện: giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật thì gần như không soi rọi được sự khác biệt giữa hai bộ phận văn học phân chia theo giới tính. Đặc biệt, khi nghiên cứu theo lý thuyết nữ quyền, phương pháp đọc này không thể làm nổi rõ những đặc trưng của văn học nữ. Tác giả của công trình Hồ Xuân Hương – Tiếp cận từ quan điểm giới tính cũng đã có nhận xét tương tự khi tìm kiếm một cách thức tiếp cận phù hợp với lý thuyết phê bình giới:
Bên cạnh sự phân biệt hay và dở, trong văn chương còn có sự phân biệt về thể loại sáng tác, giai đoạn sáng tác, thể tài. Những cách phân biệt này chủ yếu dựa vào nội dung của tác phẩm để đánh giá tác phẩm trên hai phương diện giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. Nghĩa là theo như cách phân biệt này nếu phản ánh cùng một chủ đề như tả cảnh thiên nhiên hay miêu tả diễn biến tâm trạng thì giữa tác phẩm của một tác giả là nam giới và nữ giới sẽ không hề có nét đặc trưng cá biệt về giới.(15)
Như vậy, nhìn từ phía văn học nữ, những nền tảng chung mà văn học truyền thống, văn học nói chung tạo ra là thể, bao hàm những yếu tố, những phương diện, những khái niệm, những dạng thức tồn tại của văn học, nghĩa là các thành tố tạo nên sự hình thành và hiện hữu của tác phẩm. Trên cái thể ấy, văn học nữ bộc lộ tính riêng biệt, đặc thù của mình. Tính là đặc trưng của thể tồn tại bằng một hàm lượng khác, mang một sắc thái, trạng thái khác, một vị trí khác. Chẳng hạn như yếu tố tâm lý và tính dục đã xuất hiện từ lâu trong văn học, nhưng chỉ dưới ngòi bút của nữ giới, tâm lý và nhục cảm của người phụ nữ mới được miêu tả một cách cụ thể, rõ rệt bằng chính nội tại tự thân của nó. Tương tự như vậy, lịch sử văn học đã xây dựng hình tượng người phụ nữ và nhiều thời kỳ, hình tượng này nằm ở vị trí trung tâm trong cảm hứng sáng tác của thời đại, thế nhưng, đến dòng chảy của văn học nữ, hình tượng này mới đứng ở vị trí trọng tâm, mới bộc lộ những yếu tố bên trong thuộc về chính nó và xuất hiện với mật độ dày đặc trong văn học. Về tính chất, hình tượng phụ nữ trong văn học của nam giới mang tính hình tượng – biểu tượng hơn là hình tượng – bộc lộ.
Ngoài ra, chúng tôi cũng đề nghị một khuynh hướng phối hợp chặt chẽ các phương pháp trên với phương pháp nghiên cứu liên ngành, nhìn vấn đề từ nhiều nguồn tri thức trong nghiên cứu sinh học, xã hội học, văn hoá học, triết học… để tiếp nhận tác phẩm. Có thể nói rằng đây là một công cụ tiếp cận đa dụng cụ, đòi hỏi người vận dụng phải có kiến thức nền tảng và kiến thức chuyên ngành vững chải, uyên thâm.
Trên đây là những phác thảo mang tính định hướng. Bằng phương pháp này, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực nghiên cứu văn học nữ giới từ lý thuyết phê bình Nữ quyền, để cùng đạt đến mục đích mà nhà văn Lê Thị Huệ đã nói đến:
“Tôi tin nghệ thuật do người nữ tạo ra khác nghệ thuật do người nam chế tạo. Phải có những người đọc tinh tế, những nhà phê bình sáng, mới nhận ra được nghệ thuật sáng tạo bởi người nam và nghệ thuật sáng tạo bởi người nữ khác nhau ở những điểm nào”(16).
3. Một số phương diện đặc thù của lối viết nữ
Với trình độ còn hạn hẹp của người thực hiện bài viết này, việc đạt đến các vấn đề cần nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ bằng hệ thống phương pháp này là một tham vọng quá sức. Trong khả năng ít ỏi của mình, chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát và trình bày một vài phương thức tư duy nghệ thuật đặc thù của các tác giả nữ. Những phương diện mà chúng tôi lựa chọn để trình bày những yếu tố hình thành nên lối viết nữ là: phương thức tư duy nghệ thuật mang tính tự thuật, lối viết thân thể, quan hệ giữa tính nữ với sáng tác văn học, suy nghĩ lùi về người mẹ và bi kịch vỡ mộng gắn liền với hình tượng người đàn ông bất toàn với các lý do sau:
+ So với các tác giả nam và nền văn học của nam giới, đây là những đặc trưng riêng biệt và nổi bật của các nhà văn nữ cũng như của sáng tác nữ giới.
+ Đây là những phương diện có tính xuyên suốt từ chủ thể sáng tác đến nội tại tác phẩm, kết dính nhà văn và tác phẩm trong mối quan hệ chặt chẽ. Từ đó, làm sáng tỏ đặc trưng của chủ thể sáng tạo cũng như đặc trưng của tác phẩm.
+ Cũng từ những phương diện này, hệ thống tác phẩm được tiếp cận từ phương diện nội dung đến phương diện nghệ thuật. Hẳn nhiên, trên một góc hẹp, phương thức tiếp cận này chỉ có thể khám phá một mảng nội dung và một số yếu tố nghệ thuật đặc thù chứ không thể bao quát toàn bộ sáng tác trên diện rộng. Qua đấy, phân tích và kiến giải những điểm khác biệt đặc trưng so với sáng tác của nam giới.
3.1.Tự thuật – một mô thức tự sự đặc thù của văn học nữ
Trên hầu khắp những trang viết của các tác giả nữ, người tiếp nhận luôn nhìn thấy sự hiển hiện thường trực của chân dung cuộc sống cá nhân nhà văn. Lý luận văn học gọi đây là hiện tượng “tự ăn mình”. Hầu hết tiểu thuyết của các nhà văn nữ đều là tiểu thuyết tự truyện (autofiction). Khi Jane Eyre của Charlotte Bronte xuất hiện, người ta gọi đó là “một cuộc cách mạng của tiểu thuyết tự thuật” trong thời đại Victoria ở nước Anh(17). Người tình (L’Amant) của Marguerite Duras cũng là một tự truyện. Bà đã tiểu thuyết hoá một giai đoạn của đời mình: thời thơ ấu ở Việt Nam với mối tình đầu nhiều trắc trở.
Văn học nữ thế giới đương đại có rất nhiều tiểu thuyết tự truyện. Các cây bút nữ linglei của Trung Quốc gần như tái hiện chính mình trên trang sách, thậm chí đưa tên mình thành tên tác phẩm (Điên cuồng như Vệ Tuệ – Vệ Tuệ), đưa hình ảnh của mình thành ảnh bìa tạo nên hiệu ứng tự truyện ngay từ yếu tố ngoài văn bản. Nhiều quyển tiểu thuyết được đặt tên mang chất tự truyện như Tự truyện chưa hoàn tất là câu chuyện về cuộc đời của tác giả người Anh Alice A. Bailey, Từ điển Trung – Anh cho người đang yêuđược Quách Tiểu Lộ sáng tác dựa trên cuốn nhật ký viết trong những năm tháng sống tại London. Katarzyna Grochola, nữ tác giả người Ba Lan, đã thuật lại toàn bộ đời sống tinh thần của mình sau khi bị người chồng ruồng bỏ bằng chất giọng humour với Xin cạch đàn ông …
Khi chọn những thể loại mang tính hư cấu cao là tiểu thuyết và truyện ngắn, và đưa vào phương thức tự thuật, các nhà văn nữ bộc lộ rõ nhu cầu thể hiện bản thân. Sự hòa trộn giữa hư cấu và phi hư cấu; sự khách quan hoá những yếu tố chủ quan gắn liền với “cái tôi” tác giả; việc nhào nặn những sự kiện hiện diện trong lý lịch cá nhân của nhà văn thành các chi tiết nghệ thuật thẩm thấu qua tấm màn của tưởng tượng; cũng như tỉ lệ và mật độ xuất hiện của yếu tố tự thuật trong hệ thống tác phẩm, đã tạo nên những cấp độ tự thuật khác nhau.
Có thể thấy rằng tự thuật là một thuộc tính của phương thức sáng tác văn học nữ. Tự thuật xuất hiện ở hầu khắp các tác giả, các tác phẩm, chiếm đa phần diện tích những trang viết ở những mức độ khác nhau, trong nhiều hình thức biểu hiện đa dạng, phong phú. Theo Đặng Anh Đào, vào thế kỷ XIX, Flaubert, người tỏ ra hiểu tâm lý phụ nữ qua Bà Bovary, đã nói: “Phụ nữ không viết được cái gì khác mình, điều này khiến tiểu thuyết của họ đọc không hay”(18). Thế nhưng, bất chấp việc Flaubert nhìn nhận đặc trưng này như một nhược điểm, các tác giả nữ vẫn xuất hiện ngày càng ồ ạt và khẳng định dần vị thế của họ trên văn đàn. Và Đặng Anh Đào khẳng định: “Phụ nữ thường mạnh ở cái chỗ là họ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách hoặc nói như phương Tây người ta vẫn nói, họ tự ăn mình”(19). Những cách lý giải này dựa trên đặc điểm nam tính, nữ tính được thể hiện trong tác phẩm của người viết.
Theo chúng tôi, không thể lý giải vấn đề này chỉ dựa trên một phương diện, một điểm nhìn, cũng như không thể căn cứ vào một hay một số cá nhân nhà văn riêng lẻ, vì như vậy sẽ dễ rơi vào sự biện giải dựa trên hiện tượng cá biệt chứ chưa đi vào bản chất của vấn đề. Bên cạnh đó, khẳng định tự thuật như là một phương thức tư duy nghệ thuật của nữ giới không có nghĩa là phủ định sự xuất hiện của phương thức này trong sáng tác của các tác giả nam. Trọng tâm của vấn đề nằm ở chỗ là: đối với bộ phận văn học của giới nào, phương thức này trở thành thuộc tính sáng tác cơ bản, trở thành một đặc trưng nhìn từ góc độ của sự khái quát hoá. Theo chúng tôi, cần phải phân tích những căn nguyên tạo nên phương thức tự thuật nhằm nối dài hiện thực đời tư cá nhân trong tác phẩm, như là một phương thức tư duy bản chất của các tác giả nữ, từ phương diện con người bao gồm các yếu tố xã hội, sinh học và tâm lý đến phương diện văn học bao gồm các yếu tố nội tại của tác phẩm và lịch sử văn học nữ thì mới có thể đưa ra những lý giải mang tính khoa học và toàn diện.
3.2.Yếu tố tính dục và lối viết thân thể (Body writing)
Một tác phẩm có đề cập và mô tả yếu tố tính dục chưa hẳn là tác phẩm được sáng tác theo lối viết thân thể. Điều đó có nghĩa là, tính dục và thể xác con người không chỉ là hiện thực được miêu tả, mà còn chứa đựng và chuyển tải quan niệm nghệ thuật, bộc lộ nhân sinh quan, thế giới quan của nhà văn về đời sống, đồng thời, vừa là phương thức nghệ thuật chủ đạo, xuyên suốt và thống nhất được sử dụng để tái hiện hiện thực đời sống ấy. Khi đó, lối viết thân thể mới thực sự được hình thành.
Các nhà phê bình nữ quyền phương Tây đầu thế kỷ XX với các khuynh hướng nữ quyền hiện sinh, nữ quyền hậu cấu trúc, nữ quyền hậu hiện đại… đã nêu cao chủ trương người phụ nữ viết về chính thân thể của mình. Họ cho rằng toàn bộ nền tư tưởng phương Tây được xác lập dựa trên “sự áp bức mang tính hệ thống của nam giới đối với đời sống của nữ giới”. Nhân loại suốt bao thế kỷ qua vừa tồn tại trong sự thống trị của nam quyền, vừa kháng cự lại thể chế ấy. Trong tác phẩm Tiếng cười nàng Medusa, Hélène Cixous đã thúc giục người phụ nữ cầm bút: “Hãy kiểm soát thân thể mình cùng một lúc với việc kiểm soát hơi thở và lời nói. Hãy viết về chính bản thân bạn. Thể xác cũng cần phải được lắng nghe”(20). Khuynh hướng này đã tạo nên ý niệm của các nhà phê bình nữ quyền về lối viết thân thể (body writing) trong văn học phương Tây. Cũng tương tự như vậy, văn học Trung Quốc có các khái niệm “thân thể tả tác” (thân thể sáng tác) do Cát Hồng Binh đưa ra và khái niệm “tu từ học thân thể”, gắn liền với trào lưu sáng tác linglei bùng nổ trong nền văn học nước này từ thập niên 70 của thế kỷ XX.
Nhìn một cách khái quát, có thể thấy rằng các nhà nữ quyền Pháp đều gặp gỡ nhau ở quan niệm đưa những trải nghiệm thể xác của người phụ nữ để kháng cự lại những biểu tượng duy dương vật trong tư tưởng phương Tây. Người phụ nữ cần phải khám phá và bộc lộ mình, mà trước hết là khám phá và bộc lộ thể xác, yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của bản thể tính nữ. Bởi lẽ, “bản năng giới tính bắt đầu bằng thân thể”(21), bằng sự khác biệt trên phương diện sinh học và tính dục. Như vậy, thân thể và tính dục không chỉ là đối tượng của phản ánh, mà còn là phương tiện để phản ánh, để người phụ nữ khám phá và tái hiện thế giới nội tại của mình.
Một mặt khác, các nhà nữ quyền cũng nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của nữ giới. Họ cho rằng, trong cái khuôn kiên cố của văn hóa và tư tưởng phương Tây, người phụ nữ đã được hình thành và ngấm sâu bên trong họ thái độ khinh rẻ bản năng giới tính của mình. Vì vậy, bên cạnh sự đối kháng lại những phạm trù duy dương vật và nam giới trung tâm, nữ giới còn cần giũ bỏ thái độ sai lầm và đầy mặc cảm tự ti đó đối với bản năng tính dục bên trong họ.
Đồng thời, trong thực tiễn sáng tác và tiếp nhận văn học hiện nay, có nhiều người quan niệm một cách đơn giản về lối viết thân thể, đưa khái niệm này xuống gần với sự trình bày thân xác thuần tuý chứ không phải là sự mô tả thân thể mang lại giá trị nhân sinh và thẩm mỹ. Trở lại sự trình bày tư tưởng của các nhà phê bình nữ quyền, có thể thấy rằng cần phải xem đây là một phương pháp sáng tác chứ không thuần là việc mô tả yếu tố tính dục như một tình tiết, một đơn vị trần thuật đơn thuần trong tác phẩm. Thân thể – tính dục vừa là đối tượng phản ánh, hiện thực được phản ánh, vừa là cách thức tìm kiếm và biểu đạt đặc trưng tính nữ. Viết, không phải chỉ từ sự cảm thụ thân xác thuần tuý, mà còn tạo nên cả hành trình tự cảm nghiệm bản thể của người phụ nữ, để tạo nên lịch sử sinh tồn của riêng nữ giới như hành trình mà suốt mấy thế kỷ qua, các nhà văn (chủ yếu là nhà văn nam) đã tạo lập để khám phá và bộc lộ cái nhìn về con người. Ở phần kết của bài viết “Nhận diện “thân thể sáng tác” trong văn học Trung Quốc đương đại”, tác giả Nguyễn Văn Nguyên cũng đề cập đến vấn đề này và dẫn lời của Tạ Hữu Thuận, nhà nghiên cứu ngữ văn và lý luận văn học người Trung Quốc cho rằng đó là “sự sai lầm to lớn đối với mỹ học cơ thể, hay là sự giản lược hóa một cách thô bạo, để đến cuối cùng, cơ thể đã bị giản hóa thành đại danh từ của giới tính và dục vọng. Cái gọi là “thân thể sáng tác” cũng trở thành sự mở đường ào ạt cho giới tính và dục vọng”(22).
3.3.Mối quan hệ giữa tính nữ và hoạt động sáng tác văn học
Trong sáng tác của các nhà văn nữ, tính nữ được thể hiện trên ba phương diện: tính nữ nơi chủ thể sáng tác, tính nữ nơi đối tượng phản ánh và tính nữ nơi thế giới nhân vật. Cả ba phương diện này này luôn có sự tương tác với nhau làm thành thế giới nghệ thuật mang đậm tính nữ, và đó là một khách thể nghệ thuật. Điều quan trọng ở đây là việc nhấn mạnh sự khác biệt giới trong đặc tính bản thể ấy như là một phương tiện để đi vào khám phá đặc trưng sáng tạo và thế giới nghệ thuật của các tác giả nữ. Bản tính này chi phối năng lực và phương thức sáng tác của chủ thể, đồng thời, cũng chính là nội dung đối tượng nhận thức mà họ hướng đến khi tái hiện trên trang viết, tạo nên tính nữ đặc trưng trong thế giới tinh thần của người phụ nữ viết văn.
Sự hình thành tính nữ trong thế giới nghệ thuật diễn ra qua hai quy trình: Nhà văn tiếp nhận thế giới mang tính nữ trong đời sống, với phạm vi chủ đề là cuộc sống của người phụ nữ; sau đó, nhà văn phóng chiếu bản thể nữ tính của mình vào tác phẩm. Vì vậy, nhìn từ phương diện giới, thế giới nghệ thuật hình thành trong sáng tác nữ là một phức thể mang tính nữ. Đặc trưng bản thể này vừa là đặc điểm của thế giới nghệ thuật, vừa là những yếu tố sinh thành chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật ấy.
Đầu thế kỷ XX, trong các bài viết đăng trên Phụ nữ tân văn từ năm 1929 đến năm 1933, Phan Khôi đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa tính nữ và hoạt động sáng tác văn học, thể hiện trên hai phương diện: Chủ thể của sáng tác và đối tượng của sáng tác. Trong cuộc trao đổi ý kiến Phụ nữ và sáng tác văn chương (Tạp chí Văn học, 6/1996), các nhà phê bình và những người cầm bút cũng dựa trên đặc trưng tính nữ để lý giải hiện tượng các nhà văn nữ xuất hiện rầm rộ và nhanh chóng bắt kịp nhịp thời đại, đạt được những thành tựu mới mẻ như hiện nay. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, các nhà nghiên cứu chủ yếu nhìn tính nữ trên phương diện chủ thể sáng tác và mối quan hệ với tác phẩm văn học.
Nhìn chung, bản thể tính nữ đã tạo nên một thế giới nghệ thuật có tính bao trùm và riêng biệt của các nhà văn nữ khi so sánh với văn học truyền thống. Cũng bằng góc nhìn này, có thể thấy các nhà văn nữ khi cầm bút đã vừa tái hiện thế giới hiện thực riêng, vừa thể hiện một thế giới quan, nhân sinh quan riêng biệt. Đi sâu vào bản thể tính nữ, họ đã có một cái nhìn biện chứng mới mẻ về người phụ nữ ở nhiều giác độ, nhiều góc cạnh mà văn học trước đây chưa chạm đến. Thực thể người phụ nữ được đưa vào tầm ngắm thường trực của chiếc máy quay tinh nhạy, đặt từ góc nhìn nội quan để thâu nhận từng chi tiết thuộc thế giới bên trong.
3.4 Hình tượng người mẹ và suy nghĩ lùi về người mẹ (Thinking back through mother)
Đối với văn học nữ, người mẹ không chỉ là đối tượng sáng tác, mà còn là cách thức để nhà văn nữ tư duy, cảm nghiệm cuộc sống và nhận thức về bản thân. Một luận điểm nổi tiếng của Virginia Woolf trong tập tiểu luận Căn phòng riêng đã thu hút các nhà nghiên cứu, nhà phê bình trong suốt một trăm năm qua chính là phát kiến về “sự suy nghĩ lùi thông qua người mẹ”. Đây chính là vấn đề về lối viết nữ, về một dạng thức tư duy đặc trưng của nữ giới. Theo Virginia, người phụ nữ gần như không có quá khứ. Lịch sử của họ trống rỗng và không có bất cứ tài liệu nào lưu trữ những trải nghiệm sống của giới họ. Vì vậy, để nhận thức thế giới và khám phá bản thể, họ phải suy nghiệm từ đời sống của người mẹ, người phụ nữ trước họ mà họ có thể chứng kiến, tìm hiểu và nhận thức.
“Sau lưng họ vắng bóng một truyền thống viết văn, hoặc nếu có thì vô cùng ngắn ngủi và thiếu vô tư, và chẳng giúp ích gì. Bởi nếu là phụ nữ, chúng ta nghĩ về quá khứ qua bà mẹ chúng ta chứ không ai khác.”(23)
Trong tập tiểu luận của mình, Virginia đã lý giải toàn bộ tình trạng nghèo nàn vật chất dẫn đến sự đói khổ tinh thần và nỗi thiếu thốn tự do trí tuệ thông qua việc quan sát đời sống của người mẹ. Từ đó, bà khái quát hóa thành quy luật chung cho thân phận người phụ nữ. Sự suy ngẫm thông qua người mẹ cũng góp phần lý giải nguyên do các nhà văn nữ thường hướng đến hình tượng người mẹ và thời thơ ấu như là hệ đề tài đặc thù trong tác phẩm của mình.
Tác giả Beth C.Schwartz đã ví von rằng, cũng như các thi sĩ đã từng tạo ra hình tượng nữ thần thơ ca để lý giải cội nguồn cảm hứng linh thánh trong sáng tác thơ ca của nam giới, thì giờ đây, từ cái nhìn của mình, Virginia đang tìm kiếm một nữ thần thơ ca cho các nhà văn nữ. Hình tượng người mẹ là nơi lưu trữ ký ức từ quá khứ và là nguồn gốc sản sinh cảm hứng cho các cây bút nữ, đóng vai trò động lực hạt nhân của sáng tạo(24). Trong bài viết về cuốn tự truyện Ngọn hải đăng của Virginia, tác giả Maria Dibattista cho rằng Virginia thiên về nhấn mạnh chức năng tạo nên nguồn cảm hứng sáng tạo hơn là chức năng tiền thân của hình tượng người mẹ. Điều may mắn của người phụ nữ viết văn là nữ thần thơ mang giới tính của họ và cội nguồn năng lượng sáng tạo thi ca mang đậm thiên tính nữ. Ngoài ra, “suy nghĩ lùi thông qua người mẹ” đặc biệt thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực phân tâm học từ góc độ mối quan hệ giữa người mẹ và con gái, phức cảm Electra và cả từ khía cạnh đời tư của Virginia Woolf khi bà vốn là đứa trẻ mồ côi mẹ từ năm 13 tuổi.
Nhà phê bình nữ quyền Hélène Cixous cũng đưa ra khái niệm “mực trắng” để đề cập đến cội nguồn sáng tác của nữ giới. Người phụ nữ viết văn bằng thứ mực chảy ra từ dòng sữa mẹ. Người mẹ là gốc rễ của sáng tạo, là hình tượng mà qua đó, nữ giới có thể nhận thức được bản thể giới tính và thân phận giới tính của mình. Sự trở về với cơ thể người mẹ thể hiện tính không thể phân ly giữa cơ thể và đời sống của những thân phận nữ giới.
3.5 Bi kịch vỡ mộng và hình tượng người đàn ông bất toàn
Theo thuyết phân tâm của Freud, phụ nữ được định nghĩa là người đàn ông bất toàn, tức là kẻ bị thiến hoạn, không có dương vật. Dương vật trở thành biểu tượng trung tâm của sức mạnh và giá trị. Trong văn học hiện đại, hình tượng người đàn ông bất toàn lại thuộc về chính nam giới. Đó là cái nhìn của người phụ nữ về người nam không toàn vẹn, trở nên khiếm khuyết, gây nên sự vỡ mộng ở nữ giới.
Với cảm hứng sáng tác chủ đạo hướng về đề tài tình yêu, các nhà văn thường đặt nhân vật người phụ nữ trong thế đối sánh với thế giới người nam. Khi bị đẩy vào bi kịch, người phụ nữ nhận chân toàn bộ giá trị hiện thực bi đát của mối quan hệ mà họ luôn tin rằng phải và chỉ có thể được tạo dựng bằng yêu thương, bằng sự hy sinh tuyệt đối cho nhau. Người đàn ông luôn là kẻ gây ra nỗi đau và sự bất hạnh, kẻ phản bội lại lý tưởng về tình yêu, về đời sống. Họ là những hình tượng bất toàn trong thế giới bất toàn.
Bi kịch người phụ nữ vỡ mộng trong một thế giới bất toàn này được lặp đi lặp lại, trở thành điểm tương đồng trong cách thức tái hiện và quan niệm, lý giải đời sống trong sáng tác của các nhà văn nữ. Đó vừa là nỗi thất vọng của phụ nữ trước hiện thực người đàn ông khiếm khuyết, bất lực chứ không phải là người đàn ông hoàn hảo, lý tưởng của xã hội. Đồng thời, trên hành trình tìm kiếm chính mình, người phụ nữ thông qua sự phủ định nam giới để khẳng định bản thể của họ, như Hélène Cixous đã từng nói: “Tôi chưa dám xây dựng một hình tượng nam giới chân chính, tại sao? Vì tôi dùng chính cơ thể mình để viết”(25). Sau khi khảo sát các tác phẩm văn học nữ Trung Quốc hiện đạị, tác giả Nguyễn Văn Nguyên cũng đã đúc rút ra kết luận rằng hệ thống nhân vật nam thường được xây dựng “trên cơ sở coi thường nam giới, phủ định, phê phán toàn bộ thế giới đàn ông. Những hình tượng nam tính đầy “vai năm thước rộng” vắng bóng trong tiểu thuyết “thân thể sáng tác”, đại đa số những nhân vật nam trong tiểu thuyết “thân thể sáng tác” đều nhạt nhẽo, tầm thường, phẩm cách vô vị, thiếu những vận động bản thân cả từ bề mặt lẫn chiều sâu, nằm rải rác trong các tự sự của nữ giới, lẩn quất và mơ hồ, chỉ như những hiện vật để ngắm nghía”(26).
Như vậy, xây dựng thế giới đàn ông bất toàn là một trong những phương thức nghệ thuật thể hiện nội dung tư tưởng thông qua hệ thống hình tượng nhân vật được các nhà văn vận dụng như một hệ hình thi pháp sáng tác nữ, bộc lộ một thế giới quan nữ tính từ góc nhìn của mình.
Tóm lại, ý thức về giới đã và đang trỗi dậy một cách mạnh mẽ và quyết liệt, đặt con người, xã hội và nền văn hóa nhân loại trong một cái nhìn mới, một góc nhìn mới. Trong lĩnh vực chính trị – xã hội, người phụ nữ đấu tranh cho nữ quyền, cho sự bình đẳng giới. Còn trong sáng tác nghệ thuật, họ bộc lộ tư tưởng và cảm xúc của chính mình, ý thức về bản thể con người mình và thế giới xung quanh. Người phụ nữ không còn là một hình tượng – đối tượng được khám phá gián tiếp bằng cái nhìn của nam giới nữa mà là chủ thể trực tiếp tự bộc lộ, tự tái hiện chính mình và thế giới. Những đặc trưng trên đã tạo nên một mô thức tự sự bao trùm từ phương diện nội dung đến hình thức nghệ thuật của tác phẩm, có gốc rễ từ nguyên nhân lịch sử xã hội và ngụ ẩn ngay trong tâm lý sáng tác của nhà văn. Đây thực sự là những đặc trưng tư duy nghệ thuật của lối viết nữ, tạo nên điểm nhìn sáng tác riêng biệt của người phụ nữ so với nam giới trong thế giới văn chương.
Có thể nói, người phụ nữ viết văn đang làm nên một cuộc giải quy phạm, giải ký hiệu trong văn chương viết về nhân vật nữ. Qua đó, các nhà văn thể hiện rõ khả năng tự ý thức và ý thức. Đặc biệt là ý thức về sự khác biệt giữa bản thể tính nữ trong đời sống hiện thực và bản thể tính nữ trong thế giới nghệ thuật, xét từ phương diện chủ thể sáng tác, nhằm khẳng định vai trò và trách nhiệm cầm bút của chính mình và của giới mình.

 Chú thích
(1), (20) Bhaskar A. Shukla: Feminism – From Marry Wollstonecraft to Betty Friedan, Sarup & Sons, Delhi, India, 2007.
(2) Mary Klages (Hồ Như dịch): Tiếng cười nàng Medusa (bản diễn giải), www. damau.org, 2007.
(3), (4), (5), (6) Peter Collier and Helga Geyer-Ryan: Literary Theory Today, Cornell University Press, Ithaca, New York, 1990.
(7), (18), (19) Vương Trí Nhàn ghi chép: “Phụ nữ và sáng tác văn chương”, Tạp chí văn học, số 6, 1996.
(8), (9), (10), (11), (12), (13), (16) Phỏng vấn 10 nhà văn nữ trong và ngoài nước: “Có một cách viết nữ hay không”, www.gio-o.com, 2005.
(14) Nguyễn Đăng Điệp: Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam, Bài viết tham dự Hội thảo Khoa học Quốc tế Hà Nội, 2006.
(15) Cao Hạnh Thủy Hồ Xuân Hương – Tiếp cận từ quan điểm giới tính, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM, 2007.
(17)Tran Thuy Tien: Charlotte Bronte and Women’s issues in Jane Eyre,
Graduated thesis (Bachelor), University of Social Sciences and Humannities, HCM City, 2008.
(21) Elaine Showalter edited: Feminist Criticism - Essays on Women, Literature theory, Pantheon Books, New York, 1985.
(22), (25), (26) Nguyễn Văn Nguyên: Nhận diện “thân thể sáng tác” trong văn học đương đại Trung Quốc, Hội thảo Văn học Nữ quyền, Viện Văn học, 2010.
(23) Virginia Woolf (Trịnh Y Thư dịch): Căn phòng riêng (A Room of One’s Own), NXB Tri thức, 2008.
(24) Beth C. Schwartz: Thinking back through our mothers: Virginia woolf reads Shakespeare, The Johns Hopkins University Press.


* Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, số chuyên đề Bình luận văn học – Niên giám 2011. Dẫn theo http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn